Chú giải Pháp Cú · Kệ 283–284 · Dhp 283–284

Tích Các Đại Đức Già

Pañcamahallakattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 283–284 Kinh Pháp Cú, phẩm Đạo, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 283-284)

283. “Vanaṃ chindatha mā rukkhaṃ
Vanato jāyati bhayaṃ
Chetvā vanañ ca vanathañ ca
Nibbanā hotha bhikkhavo .”
“Đốn rừng không đốn cây (dục vọng)
Từ rừng sinh sợ hãi
Đốn rừng và củi gỗ (dục)
Tỳ kheo hãy thoát ly.”
284. “Yāvaṃ hi vanatho na chijjati
Aṇumatto'pi narassa nārisū
Patibaddhamano va tāva so
Vaccho khīrapako'va mātari .”
“Khi nào chưa dứt sạch
Dây tình giữa trai gái
Tâm ý vẫn buộc ràng
Như bò con vú mẹ.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến nhiều vị Tỳ Khưu già.

Tương truyền rằng: Trong thời gian còn là cư sĩ, các vị ấy là những Trưởng giả trong thành Sāvatthī thuộc hạng cự phú. Là những bạn thân, họ thường rủ nhau đi làm phước và nghe Đức Bổn Sư thuyết pháp. Rồi họ tự hỏi lẫn nhau rằng: “Chúng ta đã già rồi. Chúng ta còn nán lại nơi nhà làm gì nữa?” .

Sau khi xuất gia với Đức Bổn Sư, vì tuổi già nên họ không thể học thuộc lòng Pháp thuyết. Do đó họ cho cất một thảo am, ở sát ranh chùa rồi sống chung ở đó. Khi đi trì bình xong, họ ghé qua nhà để vợ con họ thêm vật thực mà độ.

Trong nhóm các vị Sư ấy, có một bà vợ cũ của một vị, có tên là Madhurapanikā (Mādhurapacikā) (Bàn tay thiện xảo), là người hộ độ cho tất cả nhóm. Cho nên các vị ấy thường mang vật thực khất thực được đến nhà bà mà ngồi độ, và bà tùy tiện nấu nướng thêm canh với thức ăn vào vật thực các vị ấy.

Ít lâu sau, bà lâm trọng bệnh và mệnh chung, Khi ấy các vị Sư già ấy ngồi tụ hội lại cùng nhau tại thảo am, ôm cổ nhau mà khóc than, kể lể rằng:

- Bà tín nữ có tay thiện xảo nay mất rồi.

Chư Tỳ Khưu khắp nơi đi đến hỏi thăm rằng:
- Có việc chi thế, nầy các hiền giả?

- Bạch các Ngài! Bà vợ cũ của bạn chúng tôi đã mất rồi. Một tay bà đã hộ độ chúng tôi thật nhiều. Nay bà mất đi, chúng tôi tìm đâu ra được một bà hộ tăng như thế đó nữa. Do đó, chúng tôi khóc.

Chư Tỳ Khưu đem việc nầy ra thảo luận tại Giảng đường. Đức Thế Tôn ngự đến phán hỏi rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Hôm nay các thầy tụ hội thảo luận việc chi vậy?

- Bạch Ngài, việc như thế… như thế…

- Nầy các Tỳ Khưu! Không phải bây giờ, mà trước kia bà ấy là con quạ mái. Một hôm đi kiếm ăn dọc bờ biển, bị một lượn sóng kéo lôi xuống biển mà chết. Các vị Tỳ Khưu nầy khi ấy là những con quạ trống, chúng cũng đã từng khóc than trước cái chết của con quạ mái, thở than cùng nhau rằng: “Chúng ta sẽ vớt nàng lên.” . Rồi chúng dùng mỏ định rút hết nước biển lớn, nhưng chỉ nhọc công vô ích.

Nói rồi, Ngài nói lên kệ ngôn rằng:

“Api na bahukā santā
Mukhañca Parisassati
Cramāma na pārema
Pūrateva mahodathati .”
“Quai hàm ta đã mỏi
Miệng mồm ta đã khô
Ta không tát vơi nước
Biển lớn lại đầy tràn.”

Sau khi thuật xong Bổn sanh con quạ, Đức Thế Tôn gọi chư Tỳ Khưu già đến bảo rằng:

Nầy các Tỳ Khưu! Sở dĩ các thầy gặp phải khổ nầy là tại vì khu rừng tham, sân, si. Phải đốn tuyệt khu rừng ấy đi thì các thầy sẽ thoát khỏi khổ.

Rồi Ngài nói lên kệ ngôn rằng:
283. “Vanaṃ chindatha mā rukkhaṃ
Vanato jāyati bhayaṃ

Chetvā vanañ ca vanathañ ca
Nibbanā hotha bhikkhavo .”
“Đốn rừng không đốn cây (dục vọng)
Từ rừng sinh sợ hãi
Đốn rừng và củi gỗ (dục)
Tỳ kheo hãy thoát ly.”
284. “Yāvaṃ hi vanatho na chijjati
Aṇumatto'pi narassa nārisū
Patibaddhamano va tāva so
Vaccho khīrapako'va mātari .”
“Khi nào chưa dứt sạch
Dây tình giữa trai gái
Tâm ý vẫn buộc ràng
Như bò con vú mẹ.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Nā rukkhaṃ : Nghe Đức Bổn Sư bảo : Hãy đốn rừng. Những vị mới tu ngỡ rằng: Đức Bổn Sư bảo ta hãy dùng búa, lấy rìu đi đốn rừng, rồi khởi lên ý đốn cây.

Thật ra, Đức Bổn Sư ngụ ý nói đến khu rừng phiền não nhất là tình ái, chứ không ám chỉ các cây, nên nói rằng: “Đừng đốn cây.” .

Vanato : Ví như từ khu rừng thông thường hằng có sự sợ hãi do thú dữ trú ẩn như sư tử… Cũng vậy, những sợ hãi khởi lên từ khu rừng dục vọng phiền não, phát sanh bốn sự sợ nhất là sự sợ sanh.

Vanaṃ hi vanatthañ ca : Ở đây, những cây to gọi là rừng (vana), những cây mọc sau gọi là củi gỗ. Cũng vậy, những đại phiền não dẫn đi thọ sanh các cảnh giới gọi là rừng, còn các phiền não cho quả dị thục, gọi là củi gỗ. Cả hai thứ nầy cần nên chặt đứt bằng Bốn Đạo, nên mới có câu: “Đốn rừng và củi gỗ.” .

Nibbānā hotha : Hãy dập tắt phiền não.
Kāvaṃ hi vanatho : Dầu nhỏ như hạt bụi của các

củi gỗ ấy, là dây luyến ái giữa nam và nữ chưa cắt đứt đến chừng nào tâm còn bị dính mắc buộc ràng, như bò con chưa rời vú mẹ.

Cuối thời Pháp, các vị Tỳ Khưu già đắc quả Tu Đà Hườn. Thính chúng cũng được hưởng nhiều lợi ích.

Bà hộ Tăng nay đã mất rồi
Sư già khóc tợ trẻ mồ côi
Vắng người dâng phụ đồ ăn uống
Thiếu kẻ lau qua chỗ đứng ngồi
Khát sữa bò con mơ tưởng vú
Thèm cơm quạ trống ước ao mồi
Dây tình trai gái còn miên viễn
Biển khổ trầm luân mãi mãi trôi.

DỨT TÍCH CÁC ĐẠI ĐỨC GIÀ

Pañcamahallakattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Vanaṃ chindathāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sambahule mahallake bhikkhū ārabbha kathesi.

Te kira gihikāle sāvatthiyaṃ kuṭumbikā mahaddhanā aññamaññasahāyakā ekato puññāni karontā satthu dhammadesanaṃ sutvā “mayaṃ mahallakā, kiṃ no gharāvāsenā”ti satthāraṃ pabbajjaṃ yācitvā pabbajiṃsu, mahallakabhāvena pana dhammaṃ pariyāpuṇituṃ asakkontā vihārapariyante paṇṇasālaṃ kāretvā ekatova vasiṃsu. Piṇḍāya carantāpi yebhuyyena puttadārasseva gehaṃ gantvā bhuñjiṃsu. Tesu ekassa purāṇadutiyikā madhurapācikā nāma, sā tesaṃ sabbesampi upakārikā ahosi. Kasmā sabbepi attanā laddhāhāraṃ gahetvā tassā eva gehe nisīditvā bhuñjanti? Sāpi nesaṃ yathāsannihitaṃ sūpabyañjanaṃ deti. Sā aññatarābādhena phuṭṭhā kālamakāsi. Atha te mahallakattherā sahāyakassa therassa paṇṇasālāya sannipatitvā aññamaññaṃ gīvāsu gahetvā “madhurapācikā upāsikā kālakatā”ti vilapantā rodiṃsu. Bhikkhūhi ca samantato upadhāvitvā “kiṃ idaṃ, āvuso”ti puṭṭhā, “bhante, sahāyakassa no purāṇadutiyikā kālakatā, sā amhākaṃ ativiya upakārikā. Idāni kuto tathārūpiṃ labhissāmāti iminā kāraṇena rodāmā”ti āhaṃsu.

Bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi te kākayoniyaṃ nibbattitvā samuddatīre caramānā samuddaūmiyā samuddaṃ pavesetvā māritāya kākiyā roditvā paridevitvā taṃ nīharissāmāti mukhatuṇḍakehi mahāsamuddaṃ ussiñcantā kilamiṃsū”ti atītaṃ āharitvā –

“Api nu hanukā santā, mukhañca parisussati;
Oramāma na pārema, pūrateva mahodadhī”ti. (jā. 1.1.146);

Imaṃ kākajātakaṃ vitthāretvā te bhikkhū āmantetvā, “bhikkhave, rāgadosamohavanaṃ nissāya tumhehi idaṃ dukkhaṃ pattaṃ, taṃ vanaṃ chindituṃ vaṭṭati, evaṃ niddukkhā bhavissathā”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Vanaṃ chindatha mā rukkhaṃ, vanato jāyate bhayaṃ;
Chetvā vanañca vanathañca, nibbanā hotha bhikkhavo.

“Yāva hi vanatho na chijjati,
Aṇumattopi narassa nārisu;
Paṭibaddhamanova tāva so,
Vaccho khīrapakova mātarī”ti.

Tattha mā rukkhanti satthārā hi “vanaṃ chindathā”ti vutte tesaṃ acirapabbajitānaṃ “satthā amhe vāsiādīni gahetvā vanaṃ chindāpetī”ti rukkhaṃ chinditukāmatā uppajji. Atha ne “mayā rāgādikilesavanaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ, na rukkhe”ti paṭisedhento “mā rukkha”nti āha. Vanatoti yathā pākatikavanato sīhādibhayaṃ jāyati, evaṃ jātiādibhayampi kilesavanato jāyatīti attho. Vanañca vanathañcāti ettha mahantā rukkhā vanaṃ nāma, khuddakā tasmiṃ vane ṭhitattā vanathā nāma. Pubbuppattikarukkhā vā vanaṃ nāma, aparāparuppattikā vanathā nāma. Evameva mahantamahantā bhavākaḍḍhanakā kilesā vanaṃ nāma, pavattiyaṃ vipākadāyakā vanathā nāma. Pubbappattikā vanaṃ nāma, aparāparuppattikā vanathā nāma. Taṃ ubhayaṃ catutthamaggañāṇena chinditabbaṃ. Tenāha – “chetvā vanañca vanathañca, nibbanā hotha bhikkhavo”ti. Nibbanā hothāti nikkilesā hotha. Yāva hi vanathoti yāva esa aṇumattopi kilesavanatho narassa nārīsu na chijjati, tāva so khīrapako vaccho mātari viya paṭibaddhamano laggacittova hotīti attho.

Desanāvasāne pañcapi te mahallakattherā sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Pañcamahallakattheravatthu aṭṭhamaṃ.

XX. 8. The Old Monks and the Old Woman

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

283. Cut down the forest, not alone a single tree, for from the forest springs fear;
Cut down the forest of lust and its undergrowth, monks, and ye shall be free from lust.

284. For so long as man allows even the slightest particle of lust after women to remain unextirpated,
So long is he in bondage, even as a calf that drinks his mother’s milk is in bondage to the cow.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a company of old monks.

The story goes that in the days when they were living in the world they were rich and wealthy householders of Sāvatthi. Intimate friends one of another, they banded themselves together for the performance of good works. Hearing the Teacher preach the Law, they said to themselves, “We are old men; why should we remain laymen any longer?” Accordingly they asked the Teacher to admit them to the Order, and retiring from the world, adopted the monastic life. Now by reason of their advanced years they were unable to learn the Law by heart, and therefore built a hermitage of leaves and grass on the outskirts of the monastery, and lived there together. On their alms-pilgrimages they generally went to the houses of their sons and wives and there took their meals.

Now one of the old monks had a former wife named Madhurapācikā, and she was a good friend to them all. Therefore they all used to take the food they received to her house, and sit down there and eat it, and Madhurapācikā would give them of her store of sauces and curries. In the course of time she was attacked by some disease or other and died. Thereupon those aged Elders assembled in the hut of one of their fellow Elders, and falling on each other’s necks, wept and lamented, saying, “Madhurapācikā the lay disciple is dead.” Thereupon the monks came running up from all quarters and asked, “Brethren, what is the matter?” The old monks replied, “Reverend Sirs, the former wife of our comrade is dead. She was a most generous benefactress of ours. Where shall we ever find another like her now? That is why we are weeping.”

The monks fell to discussing the incident in the Hall of Truth. In came the Teacher and asked, “Monks, what are you discussing now, as you sit here all gathered together?” When they told him, he said, “Monks, this is not the first time they have so conducted themselves; the same thing happened in a previous state of existence also.

8 a. Story of the Past: Kāka Jātaka

“In a previous state of existence they were all reborn as crows. As she was walking along the shore of the sea, a wave of the sea picked her up and flung her into the sea, and there she perished, whereupon they all wept and lamented. ‘We will pull her out again,’ said they, and forthwith set to work with their beaks to bale out the great ocean; finally they wearied of their task.”

Our jaws are tired, our mouths are parched.
We try, but cannot lower. The great ocean fills right up again.

After the Teacher had related this Kāka Jātaka in detail, he addressed the monks as follows, “Monks, inasmuch as you have incurred this suffering because of the forest of lust, hatred, and delusion, it behooves you to cut down this forest; by so doing you will obtain Release from Suffering.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

283. Cut down the forest, not alone a single tree, for from the forest springs fear;
Cut down the forest of lust and its undergrowth, monks, and ye shall be free from lust.

284. For so long as man allows even the slightest particle of lust after women to remain unextirpated,
So long is he in bondage, even as a calf that drinks his mother’s milk is in bondage to the cow.

  1. This story is almost word for word the same as Jātaka 146: i. 497-499. Text: N iii. 421-425.
  2. Jātaka 146: i. 497-499.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.