Chú giải Pháp Cú · Kệ 174 · Dhp 174

Tích Con Gái Người Thợ Dệt

Pesakāradhītāvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 174 Kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 174)

“Andhabhūto, ayaṃ loko,
Tanukettha vipassati;
Sakuṇo jālamuttova,
Appo saggāya gacchati.”

“Đời nầy thật mù quáng,
Ít kẻ thấy rõ ràng.
Như chim thoát khỏi lưới,
Rất ít đi thiên giới.”
(Ngài HT Minh Châu)

Kệ ngôn nầy được Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại tháp Aggalava, đề cập đến thiếu nữ con gái người thợ dệt

Tương truyền rằng: Một lần nọ, Đức Thế Tôn du hành đến xứ Ālavī, thị dân Ālavī đã cúng dường đến chư Tăng có Đức Phật là vị Thượng thủ. Khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn đã tùy hỷ phước với pháp thoại rằng:

- Nầy các cận sự! Các ngươi nên tu tập về tùy niệm sự chết như vầy: “Đời sống của ta không tồn tại, sự chết chắc chắn sẽ đến với ta. Ta chắc chắn phải chết, đời sống sự chết của ta có sự chết là lẽ thường hằng”. Người không tu tập niệm sự chết, khi lâm chung thường thường giật mình kinh sợ, than khóc kinh hoàng, ví như người trông thấy rắn độc sẽ kinh hoàng lên như thế. Còn người tu tập niệm sự chết, người ấy không có sự giật mình kinh sợ, hay hoảng hốt trong lúc lâm chung, ví như người trông thấy rắn độc từ xa, dùng cây đuổi nó đi xa như vậy. Do vậy, các ngươi hãy chuyên niệm về sự chết đi.

Những người nghe pháp ấy, sau khi nghe Bậc Đạo Sư thuyết giảng pháp thoại xong, chỉ tầm cầu trong phận sự của mình mà thôi.

Riêng nàng con gái người thợ dệt vừa tròn 16 tuổi, có sự suy nghĩ rằng:

“Lời dạy của Đức Thế Tôn thật là thù diệu, ta nên là người tu tập niệm sự chết vậy.”

Thế rồi, nàng hằng chuyên tu về đề mục niệm sự chết cả ngày lẫn đêm. Riêng về Đức Thế Tôn sau khi thuyết giảng pháp thoại, Ngài tuần tự du hành về kinh thành Sāvatthī, đến Tịnh Xá Jetavana. Suốt cả ba năm dài, nàng tín nữ ấy luôn tu tập về niệm sự chết. Một hôm, Đức Thế Tôn dùng Phật nhãn quán xét thế gian, Ngài nhìn thấy hình ảnh của nàng con gái người thợ dệt trong Giác võng của Ngài. Ngài suy xét rằng “Đây là nhân thế nào nhỉ”.

Ngài thấu hiểu rằng: “Nàng Chức nữ nầy, từ khi nghe Pháp của Như Lai, tinh cần tu tập niệm về sự chết đã trọn ba năm. Như Lai sẽ ngự đến đó, nàng đi đến nghe Pháp, Như Lai sẽ hỏi nàng bốn câu hỏi, nàng sẽ trả lời đúng theo ý Như Lai, Như Lai ban cho nàng tiếng Sādhu sau mỗi câu trả lời. Nhân đó, Như Lai sẽ thuyết pháp thoại, khi dứt kệ ngôn nàng Chức Nữ ấy đã chứng đạt Dự Lưu Quả. Và nương nhờ nàng, đại chúng sẽ nhận được nhiều Lợi ích.”

Sau khi quán xét rõ ràng rồi, Đức Thế Tôn cùng chư Tỳ Khưu khởi hành đi từ Jetavana đến xứ Ālavī. Sau khi tuần tự du hành đến xứ Ālavī, Ngài cùng chư Tăng vào ngụ tại Tịnh xá Aggālava.

Thị dân trong xứ Ālavī biết rằng:

- Bậc Đạo Sư ngự đến, liền đi đến Tịnh Xá cung thỉnh Ngài và Tăng chúng thọ thực nơi Tịnh Xá ấy, cả nàng Chức Nữ cũng biết được rằng: Bậc Đạo Sư ngự đến, nàng có tâm hoan hỷ rằng:

- Bậc Đạo Sư đã ngự đến nơi nầy rồi, Ngài là bậc Vô Thượng Pháp Vương, là bậc Tối Thượng Nhân, là bậc Thầy của Chư Thiên và nhân loại. Ngài có gương mặt sáng rực như trăng rằm, đã ngự đến Ālavī. Nàng lại suy nghĩ thêm rằng:

- Ta đã được diễm phúc chiêm ngưỡng kim thân Ngài, có màu da vàng rồng tinh anh cao thượng cách đây ba năm. Giờ đây, ta lại được duyên may chiêm ngưỡng kim thân Ngài cùng với sự được nghe lời giáo giới của Ngài. Pháp thoại có hương vị thật thù thắng.

Vào sáng hôm sau, khi cha nàng đi đến hàng dệt, dặn bảo nàng:

- Nầy con! Tấn vải sātaka của người mướn ta dệt, ta đang dệt còn khoảng một gang tay nữa thì xong, ta phải dệt cho xong tấn vải ấy trong ngày hôm nay. Vậy con hãy cuộn tơ đi, khi xong rồi mang đến hàng dệt cho cha.

Nàng nghe cha bảo như thế, suy nghĩ rằng:
- Ta đang muốn nghe Pháp nơi Đức Đạo Sư, nhưng

cha ta lại dặn phải cuộn tơ như thế. Ta phải làm sao đây nhỉ? Nghe Pháp của Bậc Đạo Sư hay là cuộc tơ cho cha ta?

Nàng lo lắng, rồi suy tư: “Nếu ta không lo cuộn tơ cho cha, người sẽ đánh ta. Thôi ta hãy gắng cuộn tơ cho mau chóng, rồi đi đến nghe Pháp sau.”

Nàng ngồi cuộn tơ, rồi mang cuộn tơ đặt vào giỏ đi đến hàng dệt của cha.

Bây giờ, cả thị dân trong thành Ālavī đều đến Tịnh xá cúng dường Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, rồi ngồi yên lặng chung quanh để chuẩn bị nghe Pháp thoại của Đức Thế Tôn. Bậc Đạo Sư im lặng, Ngài suy nghĩ rằng:

- Ta vì nàng tín nữ nầy mà đến đây, du hành trọn quảng đường 30 do1 tuần. Hiện nay nàng Chức nữ chưa có mặt, khi nào nàng ấy đến, khi ấy Như Lai mới giảng pháp tùy hỷ.

Đấng Như Lai vẫn im lặng, khi Bậc Tối Thượng nhân im lặng thì không một ai trong thế gian nầy, kể cả Ma Vương, Phạm Thiên có đủ thần lực để bạch hỏi được.

Khi nàng Chức Nữ mang giỏ đựng tơ đến Tịnh Xá, nàng đi vào hội chúng, đứng phía sau thính chúng, chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn. Bây giờ, Bậc Đạo Sư đưa mắt nhìn nàng, nàng hiểu rằng: “Bậc Đạo Sư đang ngồi giữa đại chúng, Ngài im lặng nhưng lại đưa mắt nhìn ta, nghĩa là Ngài đang chờ đợi ta”.

Vô cùng hoan hỷ, cô đặt giỏ đựng tơ xuống, đi đến đảnh lễ dưới chân Đức Đạo Sư.

Hỏi rằng: Vì sao Đức Thiện Thệ trông chờ nàng tín nữ ấy?

Đáp rằng: Được biết rằng: Nghiệp đoạn tận sẽ đến cho nàng trong ngày hôm ấy, nếu nàng mệnh chung trong lúc còn phàm nhân thì sẽ không có được sanh thú chắc chắn. Nhưng khi nàng đến nơi ngự của Đấng Như Lai, nghe pháp từ nơi Đấng Như Lai, sẽ chứng đạt Dự Lưu Quả, có được sanh thú chắc chắn, sẽ sanh về cõi Tusitā.

Bấy giờ, nàng Chức Nữ đi vào đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi đứng vào nơi phải lẽ, Đức Thế Tôn phóng hào quang 6 màu tỏa ra. Đợi cho nàng yên vị, Đức Thế Tôn phán hỏi nàng rằng:

(1)
- Này tín nữ! Nàng từ đâu đến?
- Bạch Thế Tôn! Con không biết.
- Nầy tín nữ, rồi nàng sẽ đi về đâu?
- Bạch Thế Tôn, con không biết được.
- Này tín nữ, nàng không biết thật ư?
- Bạch Thế Tôn, con biết.
- Có thật nàng biết chăng?
- Bạch Thế Tôn, con không biết.

1 do tuần = 16 km = 16000 mét.

Đức Thế Tôn phán hỏi nàng bốn câu hỏi như thế. Khi ấy đại chúng nghe nàng trả lời như thế, xôn xao trách nàng rằng:

- Này các người, hãy nhìn xem cô con gái người thợ dệt, nàng ta đã dễu cợt Đức Đạo Sư. Khi Ngài hỏi: Nàng từ đâu đến, thì nàng nên đáp là: Từ nhà đến. Khi Ngài hỏi nàng: Nàng sẽ đi về đâu, thì nên đáp là: Con sẽ trở về nhà. Khi Ngài hỏi thì nàng ta cần phải trả lời như thế chẳng là thích hợp, chẳng phải sao?.

Bấy giờ, đợi cho thính chúng lặng yên, Đức Thế Tôn từ tốn hỏi nàng Chức Nữ rằng:

- Nầy tín nữ, khi Như Lai hỏi nàng: Nàng từ đâu đến? Vì sao nàng trả lời rằng: Con không biết?

- Bạch Thế Tôn! Ngài vẫn biết con từ nhà đi đến đây, nhưng Ngài hỏi: Ngươi từ đâu đến? Không phải là ý như vậy, mà Ngài hỏi rằng: Con từ đâu sanh đến đây? Nhưng con không biết được con từ cảnh giới nào tái sanh vào cảnh giới nầy, nên con đáp là: Con không biết.

Lần thứ nhất, Đấng Như Lai tán thán rằng: Sādhu! Sādhu. Này tín nữ, ngươi đã giải đáp đúng câu hỏi mà Như Lai hỏi nàng. Nầy tín nữ! Thế tại sao, khi Như Lai hỏi nàng: Ngươi sẽ đi về đâu? thì nàng lại đáp rằng: Con không biết?

- Bạch Thế Tôn! Lẽ thường Ngài vẫn biết sau khi con nghe Pháp xong thì trở về nhà. Nhưng Ngài muốn hỏi con rằng: Sau khi chết, con sẽ tái sanh vào cảnh giới nào?

- Nhưng con thì không biết cảnh giới tái sanh của mình, nên con đáp là: Con không biết.

- Lành thay! Lành thay! nầy tín nữ nàng đã đáp đúng với ý nghĩa của câu hỏi nầy.

Bậc Đạo Sư khi tán thán nàng lần thứ hai rồi, Ngài phán hỏi tiếp:

- Này tín nữ! Khi Như Lai hỏi nàng: Nàng không biết thật sao? Vì sao nàng lại trả lời rằng: Bạch Thế Tôn, con biết.

- Bạch Thế Tôn! Vì con hiểu biết rằng: Hễ có thân tâm nầy, tất sẽ có ngày hoại diệt. Vì thế con trả lời rằng: Bạch Thế Tôn! Con biết.

Lần thứ ba, Đức Thế Tôn tán thán nàng Chức Nữ:

- Lành thay! Lành thay! Nàng đã đáp đúng ý nghĩa của câu hỏi Như Lai. Này tín nữ! Khi Như Lai hỏi: Nàng biết thật sao? Vì sao nàng lại trả lời rằng: Bạch Thế Tôn, con không biết?

- Bạch Thế Tôn! Con vẫn biết chắc chắn rằng con phải chết, nhưng sau khi chết sẽ sanh vào nơi nào, lại nữa con sẽ chết vào ban ngày hay ban đêm? Chết bằng cách nào? Nơi nào trên rừng hay dưới nước? Vào lúc nào thiếu niên hay trung niên…Con không thể biết được, nên con trả lời rằng: Bạch Thế Tôn! Con không biết.

Lần thứ tư, Đức Thế Tôn tán thán nàng rằng:

- Này tín nữ! Câu hỏi của Như Lai, nàng đã giải đáp đúng theo ý nghĩa như thế.

Và Ngài dạy đại chúng rằng:

- Các người không không hiểu biết ý nghĩa câu hỏi của Như Lai như nàng tín nữ ấy. Những câu hỏi thâm diệu đã được nàng giải đáp phơi bày đúng lý. Các người nên tán thán nàng, chớ đừng phiền hà trách cứ nàng. Người vô nhãn gọi là người mù, cũng vậy người thiếu trí được gọi là kẻ ngu. Còn người có mắt sẽ thấy được các sắc rõ ràng, người có trí thường thấu đạo lý nghĩa thậm thâm vậy.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:

“Andhabhūto, ayaṃ loko,
Tanukettha vipassati;
Sakuṇo jālamuttova,
Appo saggāya gacchati.”

“Đời nầy thật mù quáng,
Ít kẻ thấy rõ ràng.
Như chim thoát khỏi lưới,
Rất ít đi thiên giới.”
(Ngài HT Minh Châu)

174. Thế gian nầy mù quáng. Người thấy rõ thật hiếm hoi. Như (số) chim thoát khỏi lưới, ít người vào nhàn cảnh.

CHÚ GIẢI:

Trong những câu văn ấy: Ayaṃ loko: nghĩa là thế gian nầy giống như mù, vì là người không có trí tuệ.

Tanukettha: nghĩa là trong đời nầy ít người, tức là không nhiều, có thể liễu ngộ được Tam tướng như vô thường, khổ, vô ngã.

Jālamuttova: nghĩa là trong đám chim sẻ bị thợ săn quăng bắt lưới, chỉ có số ít thoát ra được, những con còn lại bị dính trong lưới như thế nào. Cũng vậy đa số chúng sanh bị dính mắc tức là Ma Vương đã tóm lấy rất nhiều chúng sanh, khiến họ tái sanh vào khổ cảnh, chỉ một số rất ít sanh về cõi trời, tức là được nhàn cảnh hay chứng đắc Níp Bàn.

Dứt kệ ngôn, nàng Chức nữ chứng đắc Thánh Quả Dự Lưu. Pháp thoại mang lại lợi ích cho đại chúng như thế.

Sau khi nghe Pháp thoại xong, nàng Chức Nữ hoan hỷ, nhặt lấy giỏ đựng cuộn tơ, đi đến nơi làm việc của cha. Khi ấy cha nàng đang ngồi ngủ, nàng vô ý cúi mình đi vào giỏ tơ chạm vào khung cũi, làm lay động khiến cha nàng giật mình, theo động tác thường ngày, ông kéo ngay khung cữi, thanh sắt khung cữi đã đâm ngay vào ngực của nàng Chức Nữ. Nàng chết ngay lập tức, được thọ sanh vào Tusitā.

Người cha nhìn xác con đẩm máu, ngã sóng soài ra chết, ông hối hận tâm tràn ngập sầu não, than khóc thảm thiết. Với gương mặt đẩm lệ, ông suy nghĩ:

- Không gì có thể làm cho ta dứt khổ sầu nầy được, ngoài Đức Thế Tôn ra.

Ông đi đến Đức Thế Tôn với gương mặt tràn nước mắt, đảnh lễ Đức Thế Tôn xong rồi, bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn! Xin Ngài hãy nhổ mũi tên sầu muộn trong tâm con đi.

Đức Thế Tôn phủ úy ông rằng: “Nầy cận sự nam! Người chớ nên sầu thảm nữa, nước mắt mà ngươi tuôn ra vì thương tiếc con mình, nay đã nhiều hơn nước trong bốn đại dương. Không gì thấu rõ sự khổ sầu của ngươi đâu, ngươi hãy diệt tắt sự thương mến đi.

Rồi Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại Amatagga. Cận sự nam ấy được vơi sầu muộn, xin xuất gia sống đời phạm hạnh trong Pháp Luật Đức Thế Tôn, ông tinh cần hành Sa môn Pháp chẳng bao lâu chứng đạt A La Hán Quả.

Con ông thợ dệt có duyên lành,
Niệm chết ba năm, được vãng sanh!
Trước phút lâm chung đắc nhất quả,
Nhờ nghe lời giải bốn câu rành,
Phật dạy: Người không tuệ, mắt mù,
Chỉ nhìn sự vật lối phàm phu,
Bốn câu hỏi đố là thiền ngữ,
Không hiểu, còn cho cô gái ngu!
Thợ dệt sầu con chết, xuất gia
Vui trong nếp sống của tăng già
Về sau đắc quả Alahán,
Đáp được ân sâu Đức Phật Đà.

DỨT TÍCH NÀNG CON GÁI NGƯỜI THỢ DỆT

Pesakāradhītāvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Andhabhūtoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā aggāḷave cetiye viharanto ekaṃ pesakāradhītaraṃ ārabbha kathesi.

Ekadivasañhi āḷavivāsino satthari āḷaviṃ sampatte nimantetvā dānaṃ adaṃsu. Satthā bhattakiccāvasāne anumodanaṃ karonto “addhuvaṃ me jīvitaṃ, dhuvaṃ me maraṇaṃ, avassaṃ mayā maritabbameva, maraṇapariyosānaṃ me jīvitaṃ, jīvitameva aniyataṃ, maraṇaṃ niyatanti evaṃ maraṇassatiṃ bhāvetha. Yesañhi maraṇassati abhāvitā, te pacchime kāle āsīvisaṃ disvā bhītaadaṇḍapuriso viya santāsappattā bheravaravaṃ ravantā kālaṃ karonti. Yesaṃ pana maraṇassati bhāvitā, te dūratova āsīvisaṃ disvā daṇḍakena gahetvā chaḍḍetvā ṭhitapuriso viya pacchime kāle na santasanti, tasmā maraṇassati bhāvetabbā”ti āha. Taṃ dhammadesanaṃ sutvā avasesajanā sakiccappasutāva ahesuṃ. Ekā pana soḷasavassuddesikā pesakāradhītā “aho buddhānaṃ kathā nāma acchariyā, mayā pana maraṇassatiṃ bhāvetuṃ vaṭṭatī”ti rattindivaṃ maraṇassatimeva bhāvesi. Satthāpi tato nikkhamitvā jetavanaṃ agamāsi. Sāpi kumārikā tīṇi vassāni maraṇassatiṃ bhāvesiyeva.

Athekadivasaṃ satthā paccūsasamaye lokaṃ olokento taṃ kumārikaṃ attano ñāṇajālassa antopaviṭṭhaṃ disvā “kiṃ nu kho bhavissatī”ti upadhārento “imāya kumārikāya mama dhammadesanāya sutadivasato paṭṭhāya tīṇi vassāni maraṇassati bhāvitā, idānāhaṃ tattha gantvā imaṃ kumārikaṃ cattāro pañhe pucchitvā tāya vissajjentiyā catūsu ṭhānesu sādhukāraṃ datvā imaṃ gāthaṃ bhāsissāmi. Sā gāthāvasāne sotāpattiphale patiṭṭhahissati, taṃ nissāya mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā bhavissatī”ti ñatvā pañcasatabhikkhuparivāro jetavanā nikkhamitvā anupubbena aggāḷavavihāraṃ agamāsi. Āḷavivāsino “satthā āgato”ti sutvā taṃ vihāraṃ gantvā nimantayiṃsu. Tadā sāpi kumārikā satthu āgamanaṃ sutvā “āgato kira mayhaṃ pitā, sāmi, ācariyo puṇṇacandamukho mahāgotamabuddho”ti tuṭṭhamānasā “ito me tiṇṇaṃ saṃvaccharānaṃ matthake suvaṇṇavaṇṇo satthā diṭṭhapubbo, idānissa suvaṇṇavaṇṇaṃ sarīraṃ daṭṭhuṃ madhurojañca varadhammaṃ sotuṃ labhissāmī”ti cintesi. Pitā panassā sālaṃ gacchanto āha – “amma, parasantako me sāṭako āropito, tassa vidatthimattaṃ aniṭṭhitaṃ, taṃ ajja niṭṭhāpessāmi, sīghaṃ me tasaraṃ vaṭṭetvā āhareyyāsī”ti. Sā cintesi – “ahaṃ satthu dhammaṃ sotukāmā, pitā ca maṃ evaṃ āha. Kiṃ nu kho satthu dhammaṃ suṇāmi, udāhu pitu tasaraṃ vaṭṭetvā harāmī”ti? Athassā etadahosi “pitā maṃ tasare anāhariyamāne potheyyapi pahareyyapi, tasmā tasaraṃ vaṭṭetvā tassa datvā pacchā dhammaṃ sossāmī”ti pīṭhake nisīditvā tasaraṃ vaṭṭesi.

Āḷavivāsinopi satthāraṃ parivisitvā pattaṃ gahetvā anumodanatthāya aṭṭhaṃsu. Satthā “yamahaṃ kuladhītaraṃ nissāya tiṃsayojanamaggaṃ āgato, sā ajjāpi okāsaṃ na labhati. Tāya okāse laddhe anumodanaṃ karissāmī”ti tuṇhībhūto ahosi. Evaṃ tuṇhībhūtampi satthāraṃ sadevake loke koci kiñci vattuṃ na visahati. Sāpi kho kumārikā tasaraṃ vaṭṭetvā pacchiyaṃ ṭhapetvā pitu santikaṃ gacchamānā parisapariyante ṭhatvā satthāraṃ olokayamānāva aṭṭhāsi. Satthāpi gīvaṃ ukkhipitvā taṃ olokesi. Sā olokitākāreneva aññāsi – “satthā evarūpāya parisāya majjhe nisīditvāva maṃ olokento mamāgamanaṃ paccāsīsati, attano santikaṃ āgamanameva paccāsīsatī”ti. Sā tasarapacchiṃ ṭhapetvā satthu santikaṃ agamāsi. Kasmā pana naṃ satthā olokesīti? Evaṃ kirassa ahosi “esā ettova gacchamānā puthujjanakālakiriyaṃ katvā aniyatagatikā bhavissati, mama santikaṃ āgantvā gacchamānā sotāpattiphalaṃ patvā niyatagatikā hutvā tusitavimāne nibbattissatī”ti. Tassā kira taṃ divasaṃ maraṇato mutti nāma natthi. Sā olokitasaññāṇeneva satthāraṃ upasaṅkamitvā chabbaṇṇaraṃsīnaṃ antaraṃ pavisitvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Tathārūpāya parisāya majjhe nisīditvā tuṇhībhūtaṃ satthāraṃ vanditvā ṭhitakkhaṇeyeva taṃ āha – “kumārike, kuto āgacchasī”ti? “Na jānāmi, bhante”ti. “Kattha gamissasī”ti? “Na jānāmi, bhante”ti. “Na jānāsī”ti? “Jānāmi, bhante”ti. “Jānāsī”ti? “Na jānāmi, bhante”ti. Iti naṃ satthā cattāro pañhe pucchi. Mahājano ujjhāyi – “ambho, passatha, ayaṃ pesakāradhītā sammāsambuddhena saddhiṃ icchiticchitaṃ kathesi, nanu nāma imāya ‘kuto āgacchasī’ti vutte ‘pesakāragehato’ti vattabbaṃ. ‘Kahaṃ gacchasī’ti vutte ‘pesakārasāla’nti vattabbaṃ siyā”ti.

Satthā mahājanaṃ nissaddaṃ katvā, “kumārike, tvaṃ kuto āgacchasī”ti vutte “kasmā na jānāmīti vadesī”ti pucchi. Bhante, tumhe mama pesakāragehato āgatabhāvaṃ jānātha, “kuto āgatāsī”ti pucchantā pana “kuto āgantvā idha nibbattāsī”ti pucchatha. Ahaṃ pana na jānāmi “kuto ca āgantvā idha nibbattāmhī”ti. Athassā satthā “sādhu sādhu, kumārike, mayā pucchitapañhova tayā vissajjito”ti paṭhamaṃ sādhukāraṃ datvā uttarimpi pucchi – “kattha gamissasīti puna puṭṭhā kasmā ‘na jānāmī’ti vadesī”ti? Bhante, tumhe maṃ tasarapacchiṃ gahetvā pesakārasālaṃ gacchantiṃ jānātha, “ito gantvā kattha nibbattissasī”ti pucchatha. Ahañca ito cutā na jānāmi “kattha gantvā nibbattissāmī”ti. Athassā satthā “mayā pucchitapañhoyeva tayā vissajjito”ti dutiyaṃ sādhukāraṃ datvā uttarimpi pucchi – “atha kasmā ‘na jānāsī’ti puṭṭhā ‘jānāmī’ti vadesī”ti? “Maraṇabhāvaṃ jānāmi, bhante, tasmā evaṃ vademī”ti. Athassā satthā “mayā pucchitapañhoyeva tayā vissajjito”ti tatiyaṃ sādhukāraṃ datvā uttarimpi pucchi – “atha kasmā ‘jānāsī’ti puṭṭhā ‘na jānāmī’ti vadesī”ti. Mama maraṇabhāvameva ahaṃ jānāmi, bhante, “rattindivapubbaṇhādīsu pana asukakāle nāma marissāmī”ti na jānāmi, tasmā evaṃ vademīti. Athassā satthā “mayā pucchitapañhoyeva tayā vissajjito”ti catutthaṃ sādhukāraṃ datvā parisaṃ āmantetvā “ettakaṃ nāma tumhe imāya kathitaṃ na jānātha, kevalaṃ ujjhāyatheva. Yesañhi paññācakkhu natthi, te andhā eva. Yesaṃ paññācakkhu atthi, te eva cakkhumanto”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Andhabhūto ayaṃ loko, tanukettha vipassati;
Sakuṇo jālamuttova, appo saggāya gacchatī”ti.

Tattha andhabhūto ayaṃ lokoti ayaṃ lokiyamahājano paññācakkhuno abhāvena andhabhūto. Tanuketthāti tanuko ettha, na bahu jano aniccādivasena vipassati. Jālamuttovāti yathā chekena sākuṇikena jālena ottharitvā gayhamānesu vaṭṭakesu kocideva jālato muccati. Sesā antojālameva pavisanti. Tathā maraṇajālena otthaṭesu sattesu bahū apāyagāmino honti, appo kocideva satto saggāya gacchati, sugatiṃ vā nibbānaṃ vā pāpuṇātīti attho.

Desanāvasāne kumārikā sotāpattiphale patiṭṭhahi, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Sāpi tasarapacchiṃ gahetvā pitu santikaṃ agamāsi, sopi nisinnakova niddāyi. Tassā asallakkhetvāva tasarapacchiṃ upanāmentiyā tasarapacchi vemakoṭiyaṃ paṭihaññitvā saddaṃ kurumānā pati. So pabujjhitvā gahitanimitteneva vemakoṭiṃ ākaḍḍhi. Vemakoṭi gantvā taṃ kumārikaṃ ure pahari, sā tattheva kālaṃ katvā tusitabhavane nibbatti. Athassā pitā taṃ olokento sakalasarīrena lohitamakkhitena patitvā mataṃ addasa. Athassa mahāsoko uppajji. So “na mama sokaṃ añño nibbāpetuṃ sakkhissatī”ti rodanto satthu santikaṃ gantvā tamatthaṃ ārocetvā, “bhante, sokaṃ me nibbāpethā”ti āha. Satthā taṃ samassāsetvā “mā soci, upāsaka. Anamataggasmiñhi saṃsāre tava evameva dhītu maraṇakāle paggharitaassu catunnaṃ mahāsamuddānaṃ udakato atirekatara”nti vatvā anamataggakathaṃ kathesi. So tanubhūtasoko satthāraṃ pabbajjaṃ yācitvā laddhūpasampado na cirasseva arahattaṃ pāpuṇīti.

Pesakāradhītāvatthu sattamaṃ.

XIII. 7. The Weaver’s Daughters

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

174. Blind is this world; few are there here that see;
As few go to heaven as birds escape from a net.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Aggāḷava Shrine with reference to a certain weaver’s daughter.

For one day, when the Teacher came to Āḷavi, the residents of Āḷavi invited him to a meal and gave alms. At the end of the meal the Teacher returned thanks, saying, “Practice meditation on death, saying to yourselves, ‘Uncertain is my life. Certain is my death. I shall surely die. Death will be the termination of my life. Life is unstable. Death is sure.’ For they that have not practiced meditation on death will tremble and fear when their last hour cometh, and will die screaming screams of terror, even as a man who having no stick with him, on seeing a snake, is stricken with fear. But they that have practiced meditation on death will have no fear when their last hour cometh, but will be like a steadfast man who, seeing a snake even afar off, taketh it up with his stick and tosseth it away. Therefore practice meditation on death.”

With a single exception all those who heard this discourse remained absorbed in their worldly duties as before. Only a single weaver’s daughter about sixteen years of age, said to herself, “Marvelous indeed is the speech of the Buddhas; it behooves me to practice meditation on death.” And she did naught else but practice meditation on death day and night. The Teacher left Āḷavi and went to Jetavana. The maiden did naught else for three years but practice meditation on death.

Now one day, as the Teacher surveyed the world at early dawn, he perceived that this maiden had entered the Net of his Knowledge. When he saw her, he considered within himself, “What will happen?” And he became aware of the following, “From the day when this maiden heard my discourse on the Law, she has practiced meditation on death for three years. I will now go to Āḷavi and ask this maiden four questions. On each of the four points she will answer me correctly, and I will congratulate her. I will then pronounce the Stanza, Blind is this world. At the conclusion of the Stanza she will be established in the Fruit of Conversion. By reason of her, my discourse will be profitable to the multitude besides.” So the Teacher, with his retinue of five hundred monks, departed from Jetavana, and in due course arrived at Aggāḷava monastery.

When the people of Āḷavi heard that the Teacher had come, they went to the monastery and invited him to be their guest. That maiden also heard that he had come, and her heart was filled with joy at the thought, “Hither is come, so men say, one that is my father, my master, my teacher, one whose countenance is like unto the full moon, the mighty Gotama Buddha.” And she reflected, “Now, for the first time in three years, I am to see the Teacher, the hue of whose body is as the hue of gold; now I am to be permitted to behold his body, whose hue is as the hue of gold, and to hear him preach the Law Sublime, containing within itself all sweetness.”

But her father, on his way to the workshop, said to her, “Daughter, a garment for a customer is on the loom, and a span of it is yet incomplete. I must finish it to-day. Quickly replenish the shuttle and bring it to me.” Thought the maiden, “It was my desire to hear the Teacher preach the Law, but my father has thus addressed me. Shall I hear the Teacher preach the Law, or replenish the shuttle and carry it to my father?” Then this thought occurred to her, “If I should fail to bring my father the shuttle, he would strike me and beat me. Therefore I will first replenish the shuttle and give it to him, and wait until afterwards to hear the Law.” So she sat down on a stool and replenished the shuttle.

The people of Āḷavi waited upon the Teacher and provided him with food, and when the meal was over, took his bowl and stood waiting for him to return thanks. Said the Teacher, “I came hither a journey of thirty leagues for the sake of a certain maiden of family. As yet she finds no opportunity to be present. When she finds opportunity to be present, I will return thanks.” Having so said, he sat down and remained silent. Likewise did also his hearers remain silent. (When the Teacher is silent, neither men nor gods dare utter a sound.)

When the maiden had replenished the shuttle, she put it in her basket and set out in the direction of her father’s workshop. On her way she stopped in the outer circle of the congregation and stood gazing at the Teacher. The Teacher also lifted up his head and gazed at her. By his manner of gazing at her she knew, “The Teacher, sitting in such a congregation, signifies by gazing at me that he desires me to come, that his sole desire is that I come into his very presence.” So she set her shuttle-basket on the ground and went into the presence of the Teacher.

(But why did the Teacher gaze at her? The following thought, we are told, occurred to him, “If this maiden go hence, she will die like unconverted folk, and uncertain will be her future state. But if she come to me, she will depart established in the Fruit of Conversion, and her future state will be certain, for she will be reborn in the World of the Tusita gods.” We are told that there was no escape from death for her that day.)

At the mere hint of his look she approached the Teacher, and penetrating the rays of light, of colors six in number, that shone from his body, she paid obeisance to him and stood respectfully at one side. No sooner had she paid obeisance to the Teacher and taken her stand beside him, seated in silence in the midst of the assemblage there gathered together, than he thus addressed her, “Maiden, whence comest thou?” “I know not, Reverend Sir.” “Whither goest thou?” “I know not, Reverend Sir.” “Thou knowest not?” “I know, Reverend Sir.” “Thou knowest?” “I know not, Reverend Sir.” Thus did the Teacher ask her four questions. The multitude were offended and said, “Look you, this daughter of a weaver talks as she pleases with the Supremely Enlightened. When he asked her, ‘Whence comest thou?’ she should have answered, ‘From the weaver’s house.’ And when he asked her, ‘Whither goest thou?’ she should have answered, ‘To the weaver’s workshop.’ ”

The Teacher put the multitude to silence and asked her, “Maiden, when I asked thee, ‘Whence comest thou?’ why didst thou say, “I know not’?” She answered, “Reverend Sir, thou thyself dost know that I come from the house of my father, a weaver. So when thou didst ask me, ‘Whence comest thou?’ I knew very well that thy meaning was, ‘Whence didst thou come when thou wast reborn here?’ But as for me, whence came I when I was reborn here, that know I not.” Then said the Teacher to her, “Well said, well said, O maiden! Thou hast answered correctly the question I asked thee.”

Thus did the Teacher congratulate her, and having so done, asked her yet another question, “When I asked thee, ‘Whither goest thou?’ why didst thou say, ‘I know not’?” “Reverend Sir, thou thyself dost know that I go to the weaver’s workshop with shuttle-basket in hand. So when thou didst ask me, ‘Whither goest thou?’ I knew very well that thy meaning was, ‘When thou goest hence, where wilt thou be reborn?’ But as for me, where I shall be reborn when I have passed from this present existence, that know I not.” Then said the Teacher to her, “Thou hast answered correctly the question I asked thee.”

Thus did the Teacher congratulate her the second time, and having so done, asked her yet another question, “When I asked thee, ‘Knowest thou not?’ why didst thou say, ‘I know’?” “Reverend Sir, this I know, that I shall surely die; and therefore said I so.” Then said the Teacher to her, “Thou hast answered correctly the question I asked thee.”

Thus did the Teacher congratulate her the third time, and having so done, asked her yet another question, “When I asked thee, ‘Knowest thou?’ why didst thou say, ‘I know not’?” “This only do I know, Reverend Sir, that I shall surely die; but at what time I shall die, whether in the night or in the daytime, whether in the morning or at what other time soever, that know I not; and therefore said I so.” Then said the Teacher to her, “Thou hast answered correctly the question I asked thee.”

Thus did the Teacher congratulate her the fourth time, and having so done, addressed the assemblage as follows, “So many of you as failed to understand the words she spoke, ye only were offended. For they that possess not the Eye of Understanding, they only are blind; they that possess the Eye of Understanding, they only see.” So saying, he pronounced the following Stanza:

174. Blind is this world; few are there here that see;
As few go to heaven as birds escape from a net.

At the conclusion of the discourse that maiden was established in the Fruit of Conversion.

Then the maiden took her shuttle-basket and went to her father. He was asleep even as he sat at the loom. Not observing that he was asleep, she presented the shuttle-basket. As she did so, the basket hit the tip of the loom and fell with a clatter. Her father awoke, and accidentally, as a result of taking hold of the loom, gave it a pull, whereupon the tip of the loom swung around and struck the maiden in the breast. Then and there she died and was reborn in the World of the Tusita gods. Her father looked at her as she lay there, her whole body spotted with blood, and saw that she was dead.

Straightway there arose within him intense grief. Wailing, “There is none other that can extinguish my grief,” he went to the Teacher and told him what had happened. “Reverend Sir,” said he, “Extinguish my grief.” The Teacher comforted him, saying, “Grieve not, disciple, for in the round of existences without conceivable beginning, thou hast even thus, over the death of thy daughter, shed tears more abundant than the water contained in the four great oceans.” In this wise did the Teacher discourse on the round of existences without conceivable beginning. The disciple’s grief was assuaged, and he requested the Teacher to admit him to the Order. Afterwards he made his full profession and in no long time attained Arahatship.

  1. This story is referred to at Milindapañha, 350”. Text: N iii. 170-176.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.