Kinh Pháp Cú, Phẩm Thế Gian
Dhammapada, Lokavagga
Mười hai bài kệ về thế gian: nhìn nó như bong bóng nước và ảo ảnh, người từng lầm lỗi vẫn có thể sáng lên như trăng ra khỏi mây, và quả Nhập lưu quý hơn mọi ngôi vua.
Trước khi đọc kinh
Phẩm thứ mười ba của Kinh Pháp Cú mang tên Loka, thế gian. Bài kệ mở đầu là bốn lời khuyên ngắn: đừng theo những điều thấp kém, đừng sống trong phóng dật, đừng theo tà kiến, đừng làm kẻ nuôi lớn thế gian (kệ 167). Hai bài kệ kế tiếp, theo chú giải, được nói với vua Suddhodana khi Đức Phật lần đầu về thăm quê và đi khất thực trong thành: hãy sống theo Pháp, khéo hành trì, người sống theo Pháp ngủ an lành ở đời này và cả đời sau (kệ 168–169).
Kệ 170 là một trong những bài kệ về vô thường được thuộc lòng nhiều nhất: như người nhìn một bong bóng nước, như người nhìn một ảo ảnh giữa nắng, ai xét thế gian như vậy thì vua Tử thần chẳng nhìn thấy người ấy. Kệ 171 vẽ thế gian như cỗ xe của vua được trang hoàng rực rỡ: kẻ ngu sa lầy trong đó, người hiểu biết chẳng vướng mắc. Hai bài kệ 172 và 173 mang một niềm hy vọng lớn. Ai trước kia phóng dật, về sau không còn phóng dật; ai có nghiệp ác đã làm được điều thiện che lấp đi, người ấy rọi sáng thế gian này như vầng trăng vừa ló khỏi đám mây. Theo chú giải, kệ 173 được nói về Tôn giả Aṅgulimāla, người từng giết rất nhiều người và về sau chứng quả A-la-hán.
Phần cuối phẩm nói về sự hiếm hoi của người thấy rõ. Thế gian như kẻ mù, ít người thấy rõ, như chim thoát khỏi lưới, chỉ ít người lên cõi trời (kệ 174). Kẻ đã làm trái một điều, là người hay nói dối, đã gạt bỏ đời sau, thì chẳng có điều ác nào không dám làm (kệ 176); theo chú giải, bài kệ gắn với cô Ciñcamāṇavikā, người đã vu khống Đức Phật. Người keo kiệt chẳng lên cõi trời, còn bậc trí tùy hỉ việc bố thí thì an vui ở đời sau (kệ 177). Bài kệ kết đặt mọi thứ vào đúng chỗ: làm vua một cõi khắp mặt đất, hay sinh lên cõi trời, hay làm chủ tất cả thế gian, đều không bằng quả Nhập lưu (kệ 178).
Ý chính
- Đừng theo điều thấp kém, đừng phóng dật, đừng theo tà kiến (kệ 167).
- Người sống theo Pháp ngủ an lành ở đời này và đời sau (kệ 168–169).
- Nhìn thế gian như bong bóng nước, như ảo ảnh thì Tử thần chẳng thấy (kệ 170).
- Người từng lầm lỗi mà biết sửa vẫn rọi sáng như trăng ló khỏi mây (kệ 172–173).
- Kẻ đã nói dối thì chẳng có điều ác nào không dám làm (kệ 176).
- Quả Nhập lưu quý hơn làm vua cõi đất, hơn lên cõi trời (kệ 178).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- loka
- thế gian
- pamāda
- phóng dật
- micchādiṭṭhi
- tà kiến
- pubbuḷaka
- bong bóng nước
- marīcikā
- ảo ảnh, quáng nắng
- maccurājā
- vua Tử thần
- musāvāda
- nói dối
- sotāpattiphala
- quả Nhập lưu (Dự lưu)
Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 11 tích truyện của phẩm Thế Gian theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli): xem các tích ›
Kinh Pháp Cú, Phẩm Thế Gian
Chuyện một Tỷ-kheo trẻDaharabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
167.1Chớ theo pháp hạ liệt.Hīnaṁ dhammaṁ na seveyya,Don’t resort to lowly things,
167.2Chớ sống mặc, buông lung;pamādena na saṁvase;don’t abide in negligence,
167.3Chớ tin theo tà kiến,Micchādiṭṭhiṁ na seveyya,don’t resort to wrong views,
167.4Chớ tăng trưởng tục trần.na siyā lokavaḍḍhano.don’t perpetuate the world.
Chuyện vua SuddhodanaSuddhodanavatthu Đọc tích truyện ›
168.1Nỗ lực, chớ phóng dật!Uttiṭṭhe nappamajjeyya,Get up, don’t be heedless,
168.2Hãy sống theo chánh hạnh;dhammaṁ sucaritaṁ care;live by principle, with good conduct.
168.3Người chánh hạnh hưởng lạc,Dhammacārī sukhaṁ seti,For one of good conduct sleeps at ease,
168.4Cả đời này, đời sau.asmiṁ loke paramhi ca.in this world and the next.
169.1Hãy khéo sống chánh hạnh,Dhammaṁ care sucaritaṁ,Live by principle, with good conduct,
169.2Chớ sống theo tà hạnh!na naṁ duccaritaṁ care;don’t conduct yourself badly.
169.3Người chánh hạnh hưởng lạc,Dhammacārī sukhaṁ seti,For one of good conduct sleeps at ease,
169.4Cả đời này, đời sau.asmiṁ loke paramhi ca.in this world and the next.
Chuyện năm trăm Tỷ-kheo tu thiền minh sátPañcasatavipassakabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
170.1Hãy nhìn như bọt nước,Yathā pubbuḷakaṁ passe,Look upon the world
170.2Hãy nhìn như cảnh huyển!yathā passe marīcikaṁ;as a bubble
170.3Quán nhìn đời như vậy,Evaṁ lokaṁ avekkhantaṁ,or a mirage,
170.4Thần chết không bắt gặp.maccurājā na passati.then the King of Death won’t see you.
Chuyện vương tử AbhayaAbhayarājakumāravatthu Đọc tích truyện ›
171.1Hãy đến nhìn đời này,Etha passathimaṁ lokaṁ,Come, see this world decked out
171.2Như xe vua lộng lẫy,cittaṁ rājarathūpamaṁ;like a fancy royal chariot.
171.3Người ngu mới tham đắm,Yattha bālā visīdanti,Here fools founder,
171.4Kẻ trí nào đắm say.natthi saṅgo vijānataṁ.but the discerning are not chained.
Chuyện Trưởng lão SammajjanaSammajjanattheravatthu Đọc tích truyện ›
172.1Ai sống trước buông lung,Yo ca pubbe pamajjitvā,He who once was heedless,
172.2Sau sống không phóng dật,pacchā so nappamajjati;but turned to heedfulness,
172.3Chói sáng rực đời này.Somaṁ lokaṁ pabhāseti,shines upon this world
172.4Như trăng thoát mây che.abbhā muttova candimā.like the moon freed from clouds.
Chuyện Trưởng lão AṅgulimālaAṅgulimālattheravatthu Đọc tích truyện ›
173.1Ai dùng các hạnh lành,Yassa pāpaṁ kataṁ kammaṁ,Someone whose bad deed
173.2Làm xóa mờ nghiệp ác,kusalena pidhīyati;is supplanted by the good,
173.3Chói sáng rực đời này,Somaṁ lokaṁ pabhāseti,shines upon this world,
173.4Như trăng thoát mây che.abbhā muttova candimā.like the moon freed from clouds.
Chuyện cô con gái người thợ dệtPesakāradhītāvatthu Đọc tích truyện ›
174.1Đời này thật mù quáng,Andhabhūto ayaṁ loko,Blind is the world,
174.2Ít kẻ thấy rõ ràng.tanukettha vipassati;few are those who clearly see.
174.3Như chim thoát khỏi lưới,Sakuṇo jālamuttova,Only a handful go to heaven,
174.4Rất ít đi thiên giới.appo saggāya gacchati.like a bird freed from a net.
Chuyện ba mươi Tỷ-kheoTiṁsabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
175.1Như chim thiên nga bay,Haṁsādiccapathe yanti,Swans fly by the sun’s path,
175.2Thần thông liệng giữa trời;ākāse yanti iddhiyā;psychic sages fly through space.
175.3Chiến thắng ma, ma quân,Nīyanti dhīrā lokamhā,The attentive leave the world,
175.4Kẻ trí thoát đời này.jetvā māraṁ savāhiniṁ.having vanquished Māra with his legions.
Chuyện nàng CiñcamāṇavikāCiñcamāṇavikāvatthu Đọc tích truyện ›
176.1Ai vi phạm một pháp,Ekaṁ dhammaṁ atītassa,When a personage, spurning the hereafter,
176.2Ai nói lời vọng ngữ,musāvādissa jantuno;transgresses in just one thing—
176.3Ai bác bỏ đời sau,Vitiṇṇaparalokassa,lying—
176.4Không ác nào không làm.natthi pāpaṁ akāriyaṁ.there is no evil they would not do.
Chuyện cuộc bố thí không gì sánh bằngAsadisadānavatthu Đọc tích truyện ›
177.1Keo kiết không sanh thiên,Na ve kadariyā devalokaṁ vajanti,The miserly don’t ascend to heaven,
177.2Kẻ ngu ghét bố thí,Bālā have nappasaṁsanti dānaṁ;it takes a fool to not praise giving.
177.3Người trí thích bố thí,Dhīro ca dānaṁ anumodamāno,The attentive celebrate giving,
177.4Đời sau, được hưởng lạc.Teneva so hoti sukhī parattha.and so find happiness in the hereafter.
Chuyện Kāla, con trai ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika)Anāthapiṇḍikaputtakālavatthu Đọc tích truyện ›
178.1Hơn thống lãnh cõi đất,Pathabyā ekarajjena,The fruit of stream-entry is better
178.2Hơn được sanh cõi trời,saggassa gamanena vā;than being the one king of the earth,
178.3Hơn chủ trì vũ trụ,Sabbalokādhipaccena,than going to heaven,
178.4Quả Dự Lưu tối thắng.sotāpattiphalaṁ varaṁ.than lordship over all the world.
178.5Lokavaggo terasamo.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Pháp Cú, kệ 167–178 (Dhammapada, Lokavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 167–178 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.