Chú giải Pháp Cú · Kệ 32 · Dhp 32

Tích Đại Đức Tissa Ở Thị Xã

Nigamavāsitissattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 32 Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 32) “Appamādarato bhikkhu, “Tỳ khưu mến chuyên cần,

Pamāde bhayadasi vā;
Abhabbo parihānāya,

Hoặc thấy sợ phóng dật.
Không thể bị sa chân,

Nibbānasseva santiketi” Níp bàn đến gần thật”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana (Kỳ Viên) đề cập đến Đại đức Tissa ở thị xã (Nigamatissatthera).

Quả vậy, cách thành Sāvatthī không bao xa, có một công tử (Kulaputto) sanh trưởng trong một thị xã nọ. Về sau, xuất gia hành đạo trong giáo pháp của Đức Bổn Sư, trước tu Sa di, sau thọ Cụ túc giới, tu lên Tỳ khưu vì trùng tên với Trưởng lão Tissa, nên vị nầy được chư Tăng gọi là Đại đức Tissa thị xã cho dễ phân biệt.

Đại đức tỏ ra là một vị Tỳ khưu thiểu dục, tri túc, độc cư, cần mẫn. Đại đức chỉ đi khất thực trong vòng phường thị xã là sinh quán của Đại đức mà thôi, chớ không đi đâu xa. Cho đến những cuộc lễ Trai Tăng do các đại thí chủ, nhất là ông Anāthapiṇḍika tổ chức, hoặc cuộc cúng dường vô tiền khoáng hậu của Quốc vương Pasenadi xứ Kosala thực hiện trong thành Sāvatthī, Đại đức cũng không đến dự. Thấy vắng mặt Đại đức trong các cuộc Tăng hội, Chư Tỳ khưu bảo nhau rằng:

- Đại đức Tissa thị xã này hằng ngày cứ sống thân cận với quyến thuộc không rời ra đi đâu hết, cho tới các cuộc đại lễ Trai Tăng do các thí chủ nhất là ông (Anathapiṇḍika) tổ chức, hoặc cuộc cúng dường của Quốc vương Pasenadi xứ Kosala thực hiện mà ông cũng không đến dự.

Và chuyện nầy được chư Tăng bạch trình với Đức Bổn Sư. Ngài cho gọi Đại đức Tissa thị xã đến và phán hỏi:

Nầy Tỳ khưu! Nghe nói ông như thế, có thật vậy chăng?Bạch Ngài! Con không có lê la thân mật với quyến thuộc. Con giữ hạnh độc cư, đi thọ bát được món chi thì dùng món ấy, ngon hay dở chi cũng được. Dầu cho có nghe Trai Tăng ở đâu, con cũng không đi dự. Thật tình con không có lân la thân cận với các quyến thuộc, bạch Ngài.

Sau khi nghe rõ hạnh bình sanh của Đại đức Tissa thị xã, Đức Bổn Sư cất tiếng tán dương rằng:

- Lành thay! Lành thay! Nầy chư Tỳ khưu, chính nhờ thọ giáo với bậc Đạo sư như Ta, mà ông trở nên người thiểu dục, nết hạnh thiểu dục nầy quả thật là một đức tánh cố hữu, một tập quán di truyền của Ta tự thời xưa.

Nghe vậy, chư Tăng thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuật lại Bổn sanh. Ngài bắt đầu kể rằng:

Xưa kia có vô số ngàn con chim Anh Võ (Suvakā), đồng cư ngự trong rừng Udumbara (cây trái vải), trên bờ sông Hằng thuộc miền núi Hy Mã Lạp Sơn, bây giờ có con chim oanh vũ chúa giữ hạnh tri túc hết sức cao thượng.

Trên cây vải, chỗ nó ngụ trái đã hết sạch, chỉ còn sót lại ít nụ, lá hay vỏ cây mà thôi. Nhưng nó cũng bằng lòng với chút ít ấy, ăn lấy chút đỉnh vật thực nầy rồi uống nước sông, chớ không chịu đi nơi khác.

Do oai lực tri túc của chim Anh vũ chúa. Thiên cung Đế Thích bị rung chuyển, Đế Thích tìm hiểu nguyên nhân, thấy là do hạnh tri túc của chim Anh vũ chúa, để thử lòng chim Anh vũ, Ngài liền khiến cho cây vải trở nên héo khô.

Cây vải khô héo, mục gãy lần hết những nhánh lẫn thân cây, chỉ còn trơ lại gốc cây với nhiều lỗ bọng, gió thổi mạnh luồn qua nghe ù ù, làm cho mạc cây bay ra. Chim Anh vũ lại ăn mạt cây và uống nước sông mà sống qua ngày chớ không đi nơi khác. Nó đậu mãi trên gốc cây Udumbara, bất kể đêm sương ngày nắng gió cuộn bụi làm.

Sau khi biết rõ đức hạnh cao siêu của chim Anh vũ về hạnh thiểu dục, Đức Đế Thích nghĩ thầm: “Ta sẽ kết tình bằng hữu với chim nầy và ban ân huệ khiến cho cây vải trổ trái liên miên”. Đức Đế Thích hóa thành chim Thiên Nga chúa, cùng nàng Sujātā là Công chúa A Tu La, đi đến gần khu rừng Udumbara, đậu trên một cây khác gần đó của chim Anh vũ, gợi chuyện làm quen bằng kệ ngôn rằng:

“Santi rukkhā haritapattā,
Dumāneka phalā bahū;
Kasmā nu sukkhe kolāpe,
Suvassa nirato manoti”
“Có những cây xanh lá,
Vô số cây nhiều quả.
Xá chi cội mục khô,
Mà chúa két mến lạ”

Cuộc đối thoại giữa Anh vũ chúa và Thiên nga chúa còn dài, trong Bổn sanh thứ mười đã ghi chép rõ chi tiết, nên đây chỉ tóm tắt.

Anh vũ chúa đáp: “Ta đã từng ăn quả cây nầy rất nhiều năm rồi, cho nên bây giờ dầu cho hết trái, ta cũng vẫn thương mến nó như thuở trước”.

Liền đó, Thiên Vương Đế Thích liền khiến cho cây vải mục khô xanh tươi trở lại và trổ cây đầy hoa trái.

Dứt tích bổn sanh, Đức Bổn Sư giải rằng: “Đức Đế Thích xưa kia nay là Ānanda, còn chim Anh vũ chúa chính là Đấng Như Lai”. Và Đức Thầy kết luận rằng:

- Nầy các Tỳ khưu! Nết hạnh thiểu dục như thế, là tập quán cố hữu di truyền của Ta, cho nên đối với Ta không có chi lạ, khi con trai của Ta là Tissa thị xã cũng giữ hạnh thiểu dục, cho xứng mang danh là Tỳ khưu. Quả thật vậy, Tỳ khưu nào hành được như thế thì không thể nào xa lìa các Đạo quả, chắc chắn sẽ chứng ngộ Níp bàn chẳng sai.

Đức Bổn Sư đọc tiếp kệ ngôn rằng:
“Appamādarato bhikkhu,
Pamāde bhayadasi vā;
Abhabbo parihānāya,
Nibbānasseva santiketi”
“Tỳ khưu nào đã mến ưa,
Hạnh không phóng dật, sợ chừa buông lung.
Khỏi lo sa đọa kỳ cùng,
Gần đây sẽ chứng viên dung Níp bàn”

CHÚ GIẢI:

Abhabbo parihānāya (Người không thể xa lìa): là Tỳ khưu giữ nết hạnh thiểu dục như thế. Không thể xa lìa các pháp hành Chỉ và Quán (Samathavipassanā) hoặc là Đạo quả (Maggaphala), cũng không thể xa lìa các Pháp đã chứng đắc và không đạt đến các Pháp chưa chứng đắc ấy.

Nibbānasseva santike (gần Níp bàn), là gần tắt hết lửa phiền não và chứng Hữu Dư Níp bàn cũng như gần tận diệt các pháp chấp thủ (upādāna) và chứng Vô dư Níp bàn. Sau khi mạng chung không còn tái sanh nữa.

Sau kệ ngôn Trưởng lão Tissa thị xã chứng đạt A La Hán quả với Tuệ phân tích. Những Tỳ khưu khác, nhiều vị đắc Thánh quả nhất là Dự lưu, trong hàng tứ chúng những Đại quả cũng phát sanh lên do nhờ thời Pháp của Đức Bổn Sư.

Nào phải ăn là việc tối cần,
Mà Ngài Tissa cậy gia nhân!
Trai Tăng, đại lễ không ra mắt,
Bố thí vô song chẳng dự phần.
Tri túc xả thân tìm giác ngộ,
Độc cư cầu đạo thoát mê tân,
Hành trì nết hạnh theo gương Phật,
Nên Níp Bàn xa cũng hóa gần.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC TISSA Ở THỊ XÃ

Nigamavāsitissattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Appamādaratoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto nigamavāsitissattheraṃ nāma ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi sāvatthito avidūre nigamagāme jātasaṃvaḍḍho eko kulaputto satthu sāsane pabbajitvā laddhūpasampado “nigamavāsitissatthero nāma appiccho santuṭṭho pavivitto āraddhavīriyo”ti paññāyi. So nibaddhaṃ ñātigāmeyeva piṇḍāya vicarati. Anāthapiṇḍikādīsu mahādānāni karontesu, pasenadikosale asadisadānaṃ karontepi sāvatthiṃ nāgacchati. Bhikkhū “ayaṃ nigamavāsitissatthero uṭṭhāya samuṭṭhāya ñātisaṃsaṭṭho viharati, anāthapiṇḍikādīsu mahādānādīni karontesu, pasenadikosale asadisadānaṃ karontepi neva āgacchatī”ti kathaṃ samuṭṭhāpetvā satthu ārocayiṃsu. Satthā taṃ pakkosāpetvā, “saccaṃ kira tvaṃ, bhikkhu, evaṃ karosī”ti pucchitvā, “natthi, bhante, mayhaṃ ñātisaṃsaggo, ahaṃ ete manusse nissāya ajjhoharaṇīyamattaṃ āhāraṃ labhāmi lūkhe vā paṇīte vā. Yāpanamatte laddhe puna kiṃ āhārapariyesanenāti na gacchāmi, ñātīhi pana me saṃsaggo nāma natthi, bhante”ti vutte satthā pakatiyāpi tassa ajjhāsayaṃ vijānanto – “sādhu sādhu, bhikkhū”ti tassa sādhukāraṃ datvā, “anacchariyaṃ kho panetaṃ bhikkhu, yaṃ tvaṃ mādisaṃ ācariyaṃ labhitvā appiccho ahosi. Ayañhi appicchatā nāma mama tanti, mama paveṇī”ti vatvā bhikkhūhi yācito atītaṃ āhari –

Atīte himavante gaṅgātīre ekasmiṃ udumbaravane anekasahassā suvā vasiṃsu. Tatreko suvarājā attano nivāsarukkhassa phalesu khīṇesu yaṃ yadeva avasiṭṭhaṃ hoti aṅkuro vā pattaṃ vā taco vā, taṃ taṃ khāditvā gaṅgāyaṃ pānīyaṃ pivitvā paramappiccho santuṭṭho hutvā aññattha na gacchati. Tassa appicchasantuṭṭhabhāvaguṇena sakkassa bhavanaṃ kampi. Sakko āvajjamāno taṃ disvā tassa vīmaṃsanatthaṃ attano ānubhāvena taṃ rukkhaṃ sukkhāpesi. Rukkho obhaggo khāṇumatto chiddāvachiddova hutvā vāte paharante ākoṭito viya saddaṃ nicchārento aṭṭhāsi. Tassa chiddehi cuṇṇāni nikkhamanti. Suvarājā tāni khāditvā gaṅgāyaṃ pānīyaṃ pivitvā aññattha agantvā vātātapaṃ agaṇetvā udumbarakhāṇumatthake nisīdati. Sakko tassa paramappicchabhāvaṃ ñatvā, “mittadhammaguṇaṃ kathāpetvā varamassa datvā udumbaraṃ amataphalaṃ katvā āgamissāmī”ti eko haṃsarājā hutvā sujaṃ asurakaññaṃ purato katvā udumbaravanaṃ gantvā avidūre ekassa rukkhassa sākhāya nisīditvā tena saddhiṃ kathento imaṃ gāthamāha –

“Santi rukkhā haripattā, dumānekaphalā bahū;
Kasmā nu sukkhe koḷāpe, suvassa nirato mano”ti. (jā. 1.9.30);

Sabbaṃ suvajātakaṃ navakanipāte āgatanayeneva vitthāretabbaṃ. Aṭṭhuppattiyeva hi tattha ca idha ca nānā, sesaṃ tādisameva. Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā, “tadā sakko ānando ahosi, suvarājā ahamevā”ti vatvā, “evaṃ, bhikkhave, appicchatā nāmesā mama tanti, mama paveṇī, anacchariyā mama puttassa nigamavāsitissassa mādisaṃ ācariyaṃ labhitvā appicchatā, bhikkhunā nāma nigamavāsitissena viya appiccheneva bhavitabbaṃ. Evarūpo hi bhikkhu abhabbo samathavipassanādhammehi vā maggaphalehi vā parihānāya, aññadatthu nibbānasseva santike hotī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Appamādarato bhikkhu, pamāde bhayadassi vā;
Abhabbo parihānāya, nibbānasseva santike”ti.

Tattha abhabbo parihānāyāti so evarūpo bhikkhu samathavipassanādhammehi vā maggaphalehi vā parihānāya abhabbo, nāpi pattehi parihāyati, na appattāni na pāpuṇāti. Nibbānasseva santiketi kilesaparinibbānassapi anupādāparinibbānassāpi santikeyevāti.

Gāthāpariyosāne nigamavāsitissatthero saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi. Aññepi bahū sotāpannādayo ahesuṃ. Mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.

Nigamavāsitissattheravatthu navamaṃ.

Appamādavaggavaṇṇanā niṭṭhitā. Dutiyo vaggo.

II. 9. Tissa of the Market-Town

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

32. A monk who delights in heedfulness and views heedlessness with fear,
Is not liable to fall away, but is nigh even unto Nibbāna.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Tissa of the Market-town, Nigamavāsī Tissa.

For a youth of station, born and reared in a certain market-town not far from Sāvatthi, retired from the world and became a monk in the Religion of the Teacher. On making his full profession, he became known as Tissa of the Market-town, or Nigama Tissa. He acquired the reputation of being frugal, contented, pure, resolute. He always made his rounds for alms in the village where his relatives resided. Although, in the neighboring city of Sāvatthi, Anāthapiṇḍika and other disciples were bestowing abundant offerings and Pasenadi Kosala was bestowing gifts beyond compare, he never went to Sāvatthi.

One day the monks began to talk about him and said to the Teacher, “This monk Nigama Tissa, busy and active, lives in intimate association with his kinsfolk. Although Anāthapiṇḍika and other disciples are bestowing abundant offerings and Pasenadi Kosala is bestowing Gifts beyond Compare, he never comes to Sāvatthi.” The Teacher had Nigama Tissa summoned and asked him, “Monk, is the report true that you are doing thus and so?” “Reverend Sir,” replied Tissa, “it is not true that I live in intimate association with my relatives. I receive from these folk only so much food as I can eat. But after receiving so much food, whether coarse or fine, as is necessary to support me, I do not return to the monastery, thinking, ‘Why seek food?’ I do not live in intimate association with my relatives, Reverend Sir.” The Teacher, knowing the disposition of the monk, applauded him, saying, “Well done, well done, monk!” and then addressed him as follows, “It is not at all strange, monk, that after obtaining such a Teacher as I, you should be frugal. For frugality is my disposition and my habit.” And in response to a request of the monks he related the following

9 a. Story of the Past: Sakka and the parrot

Once upon a time several thousand parrots lived in a certain grove of fig-trees in the Himālaya country on the bank of the Ganges. One of them, the king-parrot, when the fruits of the tree in which he lived had withered away, ate whatever he found remaining, whether shoot or leaf or bark, drank water from the Ganges, and being very happy and contented, remained where he was. In fact he was so very happy and contented that the Abode of Sakka began to quake. Sakka considered the cause, and seeing the parrot, determined to put him to the test. Accordingly he employed his supernatural power and withered up the tree. Straightway the tree became a mere stump, full of holes and cracks. When the wind beat upon it, there came forth from the tree a hollow sound, and out of the holes and cracks came forth dust. The parrot ate the dust, drank water from the Ganges, and going nowhere else, remained perched on the top of the fig-tree, recking naught of wind and sun.

When Sakka observed how very happy and contented the parrot was, he said to himself, “I will go to him, let him talk of the virtue of friendship, grant him his heart’s desire, and cause the fig-tree to bear ambrosial fruit.” Accordingly Sakka assumed the form of a royal goose, and preceded by Wellborn in the form of an Asura nymph, went to the grove of fig-trees, alighted on the branch of a certain tree not far off, and entered into conversation with the parrot by pronouncing the following Stanza,

There are trees with green leaves, trees aplenty with abundant fruit.
Why does the parrot’s heart delight in a tree that is withered and hollow?

(The entire Jātaka is here to be related in detail, just as it occurs in the tenth Nipāta. The occasion there is different from what it is here, but everything else is the same.) When the Teacher had given this religious instruction, he said, “At that time Sakka was Ānanda, and the parrot-king was I myself. Thus, monks, contentment is my disposition and my habit. It is, therefore, not at all strange that my son Nigamavāsī Tissa, because he was so happy and contented, obtained me for his teacher. Such a monk, because he has attained the Paths and the Fruits, is not liable to fall away; nay rather he is nigh even unto Nibbāna.” So saying, he pronounced the following Stanza,

32. A monk who delights in heedfulness and views heedlessness with fear,
Is not liable to fall away, but is nigh even unto Nibbāna.

  1. The Story of the Past presents an interesting problem. Dh. cm., i. 28412-28505, is almost word for word the same as Jātaka 429: iii. 4914-20. Dh. cm. then makes Sakka utter, not the first stanza of Jātaka 429, but the first stanza of Jātaka 430, and refers the reader to the tenth Nipāta for the rest of the story. In Fausböll’s edition the story occurs in the ninth Nipāta. But it has ten stanzas and doubtless stood in the tenth Nipāta of the recension of the Jātaka Book, to which the compiler of the Dhamma-pada Commentary had access. Text: N i. 283-286.
  2. The Jātaka goes on to say that the parrot replied, “This tree has been good to me in the past. Why should I forsake it now?” Thereupon Sakka caused the tree to bloom anew and to bear abundant fruit.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.