Chú giải Pháp Cú · Kệ 61 · Dhp 61

Tích Đệ Tử Của Đại Đức Ma Ha Ca Diếp

Mahākassapattherasaddhivihārikavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 61 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 61)

“Carañce nādhigaccheyya,
Seyyaṃ sadisamattano;
Ekacariyaṃ daḷhaṃ kayirā,
Natthi bāle sahāyatā.”
“Nếu chẳng được chung đường,
Người hơn hoặc tương đương,
Thà quyết đi độc chiếc.
Kẻ ngu không chỗ nương.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự an gần thành Sāvatthī, đề cập đến một đệ tử của Đại đức Mahākassapa.

Câu chuyện nầy phát khởi từ thành Rājagaha (Tàu âm là La Duyệt Kỳ).

Tương truyền rằng: Thuở ấy, Đại đức nương náu trong động Pipphaliguhā (Lạt Tiêu), phụ cận thành Rājagaha, Ngài có được hai đệ tử theo hầu.

Trong hai vị, một vị thì chăm làm phận sự đàng hoàng, tử tế, còn vị kia thì xảo trá, thường mạo nhận công việc của bạn như là của chính mình làm. Như khi biết bạn sắp đặt nước rửa mặt, cây chà răng xong rồi, thì ông mau chân đến bạch với Đại đức trước rằng: “Bạch Ngài, nước rửa mặt, cây chà răng đã sẵn rồi, xin thỉnh Ngài đi rửa mặt.”. Đến giờ Đại đức rửa chân hoặc tắm gội chẳng hạn, ông ta cũng đi thỉnh Đại đức như thế đó.

Vị đệ tử siêng năng làm phận sự, thấy vậy nghĩ rằng: “Ông nầy luôn cướp công lao của ta, làm Đại đức ngỡ lầm là của ông. Ta phải làm cho ông bỏ tật ấy mới được.”.

Đến xế chiều, vị kia ngủ dậy, thấy hơi nước nóng xông ra, nghĩ rằng: “Chắc có nước sôi nấu sẵn để trong nhà tắm.”, có ngờ đâu khi ông lười biếng, ăn rồi đi ngủ, vị siêng năng nấu nước tắm, châm đầy bình, giấu phía sau phòng tắm, chỉ chừa lại trong nồi độ gáo nước sôi đủ cho có hơi nước bay ra thôi.

Thế nên, vị lười biếng đi đến bạch với Đại đức: “Xin thỉnh Ngài đi tắm.”. Nói rồi, ông ta cùng với Đại đức đi vào nhà tắm.

Không thấy có nước, Đại đức hỏi: “Nước ở đâu, đạo hữu?”.

Vị ấy liền đi vào nhà nấu nước, đưa vá vào nồi nước, mới biết là nồi không, bèn xách bình đi ra giếng, vừa đi vừa cằn nhằn: “Hãy coi đó, thứ đồ mất dạy, nó bắc cái nồi không lên bếp rồi bỏ đi đâu mất. Làm mình tưởng có sẵn nước trong nhà tắm, mới đi thỉnh Đại đức.”.

Khi ấy, vị đệ tử siêng năng xách cái bình nước nóng giấu sau nhà tắm, đem vào nhà tắm. Đại đức nghĩ: “Ông sư trẻ nói: Nước nấu sẵn rồi, để trong nhà tắm, thỉnh Ngài đi tắm, mà giờ đây lại vừa xách bình đi múc nước vừa cằn nhằn, thế là nghĩa làm sao?”.

Đợi vị ấy trở lại, Đại đức bảo ông ngồi đàng hoàng, rồi ban huấn từ rằng:

- Nầy đạo hữu, phàm là Tỳ khưu thì việc nào có làm mới nhận là của mình làm, bằng không thì thôi. Còn ông, ông đã nói với ta: “Trong nhà tắm đã có nước sẵn, thỉnh Ngài đi tắm.”. Nhưng ta vào thì đứng chờ, còn ông thì xách bình vừa đi ra vừa cằn nhằn. Người xuất gia không nên làm như thế.

Vị đệ tử nói thầm: “Ai mà coi, Ngài Đại đức mà còn làm như vậy đó. Vì vấn đề nước tắm mà Ngài rầy ta nặng nề như thế.”. Ông giận thầy tế độ, nên hôm sau không đi khất thực với Đại đức.

Đại đức cùng với đệ tử kia đi đến một địa phương nọ. Trong lúc vắng Đại đức, vị đệ tử cứng đầu, vị ấy đi đến nhà của người hộ độ Đại đức. Chủ nhà hỏi:

- Bạch Ngài, Đại đức đâu rồi?

- Đại đức trong mình không được khỏe nên còn ngồi trong chùa.

- Bạch Ngài, tôi phải làm gì bây giờ đây?

- Ông hãy đặt bát dâng cho Đại đức những thực phẩm có tên như vầy… như vầy…

Tỳ khưu ấy giả cách đi bát về nuôi thầy, nên nói món gì thì chủ nhà lo tìm đủ món ấy rồi để bát cúng dường. Ông ta đi nửa đường, kiếm chỗ ngồi ăn hết rồi mới đi về chùa.

Ở địa phương nơi Đại đức đến, người ta dâng cho Đại đức lá y lớn, bằng vải nhuyễn rất tốt. Đại đức cho lại vị đệ tử theo mình. Ông nầy mừng rỡ lấy chiếc y mới đắp lên mình.

Qua hôm sau, Đại đức đến nhà người hộ độ của mình. Chủ nhà bạch lại rằng:

- Bạch Ngài! Nghe nói Ngài không được khỏe trong mình, chúng con có sắp đặt thực phẩm theo lời chỉ dẫn của ông Tỳ khưu trẻ và gởi ông đem về dâng Ngài. Chẳng hay Ngài dùng rồi, nghe có khỏe trong mình chưa?

Đại đức nghe vậy, Ngài làm thinh. Đại đức về đến chùa, khi vị ấy đảnh lễ Ngài xong, Đại đức dạy rằng:

- Nầy đạo hữu! Nghe nói ngày hôm qua ông đã làm việc như vậy. Những người xuất gia không nên ăn, dùng những thực phẩm mà mình quán thấy không hợp lẽ đạo như vậy.

Bị rầy lần nầy, ông đệ tử giận lắm, bèn cột oan trái với Đại đức: “Bữa hôm trước về vụ nước, Ngài đã cho ta là kẻ láo xược, ngày hôm nay thực phẩm mà Thiện tín hộ độ của Ngài dâng ta, ta đã ăn hết rồi. Ngài còn bảo là phải quán xét rồi mới nên thọ dụng. Được y mới tốt, Ngài cho riêng đệ tử theo hầu Ngài. Ôi! Nghiệp của Ngài nặng lắm thay! Đã đối xử khắc nghiệt với ta thì ta cũng sẽ biết cách mà đối phó lại vậy.”.

Hôm sau, thừa lúc Đại đức đi vào làng, ông Sư ấy ở lại một mình nơi chùa, lấy gậy đập bể hết các đồ vật dụng của Đại đức, lại nổi lửa đốt cái cốc lá của Đại đức. Còn món nào không thể cháy, ông ta lấy chày vồ đập bể ra rồi bỏ đi luôn. Về sau, ông ta chết bị đọa xuống địa ngục Vô Gián (Avīci).

Đại chúng khởi lên bàn tán việc nầy như vầy: “Nghe nói đệ tử của Đại đức không chịu đựng nổi sự giáo hóa của Đại đức, nổi xung lên đã đốt cháy cái thảo am của Đại đức và bỏ đi mất rồi.”. Sau đó, có một Tỳ khưu rời thành Rājagaha đến thành Sāvatthī, đi vào Tịnh xá Jetavana để yết kiến Đức Bổn Sư. Khi vị nầy đảnh lễ xong, Đức Bổn Sư tiếp chuyện thân hữu, rồi hỏi rằng: “Ông từ đâu về đây?”.

- Bạch Ngài, con từ thành Rājagaha đến đây.

- Kassapa con trai ta có được dễ chịu chăng?

- Bạch Ngài, được dễ chịu. Tuy nhiên có một vị đệ tử của Ngài đã chẳng nghe lời giáo huấn của Đại đức, mà còn sanh tâm thù hận, nổi lửa đốt cháy thảo am của Đại đức rồi bỏ đi mất.

Đức Bổn Sư minh định rằng: “Không phải chỉ bây giờ ông ấy mới căm thù khi được nghe lời giáo hóa đâu. Xưa kia, ông cũng đã từng căm thù như thế rồi. Không phải chỉ bây giờ ông ta mới phá cốc đâu, xưa kia ông ta cũng đã từng phá hoại như thế ấy rồi.”. Đoạn Đức Bổn Sư tiếp theo thuật lại tiền tích của ông đệ tử ngỗ nghịch.

Thuở xưa, dưới triều đại của vua Brahmadatta, đóng đô tại kinh thành Bārāṇasī. Trong miền núi Tuyết Lãnh, có một con sáo trú ẩn trong ổ của nó làm.

Một hôm, trong lúc mưa giông, một con khỉ rét run lập cập, mon men đi vào miền núi ấy. Sáo thấy khỉ bèn hót lên bài kệ rằng:

“Manussasseva te sīsaṃ,
Hatthapādā ca vānara;
Atha kena nu vaṇṇena,
Agārante na vijjatīti.”
“Anh có đầu giống người,
Đủ tay chân, khỉ ơi,
Sao không làm nhà ở,
Để lang thang ngoài trời.”

Khỉ ta nghĩ thầm: “Dầu ta có đủ tay chân, nhưng ta còn thiếu trí tuệ sáng suốt để kiến tạo nhà.”.

Muốn nói cho sáo biết việc nầy, khỉ cũng hú lên kệ rằng:

“Manussasseva me sīsaṃ,
Hatthapādā ca siṅgila;
Yāhu seṭṭhā manussesu,
Sāme paññā na vijjatīti.”
“Ta có đầu giống người,
Đủ tay chân sáo ơi!
Nhưng ta thiếu trí tuệ,
Phải thua kém người đời.”

Câu chuyện đối đáp về nhà ở giữa cầm và thú, ban đầu còn êm ái, nhưng lần lần đi đến chỗ gay cấn. Sáo liền nói lên hai bài kệ trách khỉ rằng:

“Anavaṭṭhitacittassa,
Lahucittassa dubbhino;
Niccaṃ addhuvasīlassa,
Sukhabhāvo na vijjati.”
“Người có tâm bất an,
Nóng nảy gây oan trái,
Thường bôn chôn liếng khỉ,
Không vui vẻ hân hoan.”

“So karassānubhāvaṃ tvaṃ,
Tvaṃ vītivattassu sīliyaṃ;
Sītavātaparittāṇaṃ,
Karassu kuṭikaṃ kapīti.”
“Tự nâng cao giá trị,
Thời giờ đừng lãng phí,

Anh nên cất cái chòi,
Gió rét có nơi nghỉ.”

Con khỉ tức giận nói rằng: “Con nầy dám chê ta là kẻ có tâm bất an, có tâm nóng nảy, ưa gây oan trái và thường bôn chôn. Bây giờ, ta hãy cho nó thấy sự ưa gây oan trái của ta một lần cho nó tởn.”. Khỉ ta liền bứt phá tan hoang ổ của con sáo. Con sáo thấy động ổ, vội thoát ra ngoài rồi bay mất.

Sau khi thuyết xong tích nầy, Đức Bổn Sư dẫn giải rằng: “Con khỉ lúc trước nay là vị Tỳ khưu phá cốc thầy tế độ, còn con sáo nay là Mahākassapa vậy.”.

Để kết luận, Đức Bổn Sư lập lại rằng:
- Như thế, nầy các Tỳ khưu, không phải bây giờ

người giáo huấn mà bị phá hoại chỗ ngụ của người. Còn con trai của ta là

- Mahākassapa mà ở chung với kẻ ngu si như thế, thà là ở một mình đơn chiếc còn hơn.

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết kệ rằng:
61. “Carañce nādhigaccheyya,
Seyyaṃ sadisamattano;
Ekacariyaṃ daḷhaṃ kayirā,
Natthi bāle sahāyatā.”
61. “Ví như chẳng được kết đôi,
Với người cao hoặc bằng ngôi thứ mình.
Thà rằng quyết chí độc hành,
Kẻ ngu chẳng phải bạn lành thâm giao.”

CHÚ GIẢI:

Tiếng Caraṃ trên đây nghĩa là đi, chỉ một trong bốn oai nghi, được dùng một cách vắn tắt, phải hiểu rộng ra là “đi tìm bạn lành”.

Seyyaṃ sadisamattano: Là nếu không gặp được người nào cao hơn mình hoặc ngang hàng mình về phương diện Giới, Định, Tuệ.

Ekacariyaṃ: Thà là đi một mình. Quả thật vậy, kết bạn với người cao thì Giới hạnh càng thêm tăng tiến, kết bạn với người bằng thì Giới hạnh không suy giảm, còn kết bạn với kẻ kém hèn, khi ở chung, ăn chung, làm việc chung thì Giới hạnh lần lần bị thua sút. Có Phật ngôn rằng: “Evarūpo puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo aññatra anuddayā aññatra anukampāti.”

– “Kẻ nam tử như vậy ta không nên thân cận, không nên giao du, không nên liên kết, trừ ra vì lòng thương xót muốn tế độ.”. Cho nên nếu vì lòng bi mẫn ta thấy rằng: Được nương theo ta, thanh niên nầy sẽ tăng trưởng Giới hạnh. Rồi ta đối đãi tử tế mà không cầu mong sự đền đáp chút nào, nếu ta làm được như vậy thì rất tốt, bằng không được như vậy thà ở một mình tốt hơn.

Daḷhaṃ kayirā: Là nơi cô tịch một mình kiên cố, bền bỉ trú tâm trong bốn oai nghi như là bạn đồng cư. Tại sao vậy?

Natthi bāle sahāyatā: Không có tình bạn nơi kẻ ngu. Tiếng sahāyatā (tình bạn) được dùng với nghĩa phần Tiểu giới, phần Trung giới, phần Đại giới, mười đề luận (kathāvatthūni), mười ba chi pháp Đầu đà (dhutaṅga), Pháp Minh sát, bốn Đạo, bốn Quả, ba cái Minh (vijjā), sáu cái Thông (abhiñña). Những Giới đức trên đây không có nơi kẻ ngu si.

Khi thời pháp chấm dứt, vị Tỳ khưu khách chứng đắc Tu Đà Hườn quả. Các vị khác cũng có nhiều vị chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả. Đại chúng thính pháp đều hưởng được sự lợi ích.

Đại đức Ma Ha Ca Diếp dạy kẻ ngu,
Không ơn thì chớ, lại sanh thù,
Mưu cơ sắp sẵn liền thiêu cốc,
Thủ đoạn hành xong, vội rút dù.
Bạc nghĩa đã đành sa cảnh khổ,
Vong tình còn chịu phí đời tu,
Kiếp xưa là khỉ, nay người ngợm,
Xác đổi nhưng mà trí vẫn lu.

DỨT TÍCH ĐỆ TỬ CỦA ĐẠI ĐỨC MA HA CA DIẾP

Mahākassapattherasaddhivihārikavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Carañce nādhigaccheyyāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ jetavane viharanto mahākassapattherassa saddhivihārikaṃ ārabbha kathesi. Desanā rājagahe samuṭṭhitā.

Theraṃ kira rājagahaṃ nissāya pippaliguhāyaṃ vasantaṃ dve saddhivihārikā upaṭṭhahiṃsu. Tesu eko sakkaccaṃ vattaṃ karoti, eko tena kataṃ kataṃ attanā kataṃ viya dassento mukhodakadantakaṭṭhānaṃ paṭiyāditabhāvaṃ ñatvā, “bhante, mukhodakadantakaṭṭhāni me paṭiyāditāni, mukhaṃ dhovathā”ti vadati, pādadhovananhānādikālepi evameva vadati. Itaro cintesi – “ayaṃ niccakālaṃ mayā kataṃ kataṃ attanā kataṃ viya katvā dasseti, hotu, kattabbayuttakamassa karissāmī”ti. Tassa bhuñjitvā supantasseva nhānodakaṃ tāpetvā ekasmiṃ ghaṭe katvā piṭṭhikoṭṭhake ṭhapesi, udakatāpanabhājane pana nāḷimattaṃ udakaṃ sesetvā usumaṃ muñcantaṃ ṭhapesi. Taṃ itaro sāyanhasamaye pabujjhitvā usumaṃ nikkhantaṃ disvā “udakaṃ tāpetvā koṭṭhake ṭhapitaṃ bhavissatī”ti vegena gantvā theraṃ vanditvā, “bhante, koṭṭhake udakaṃ ṭhapitaṃ, nhāyathā”ti vatvā therena saddhiṃyeva koṭṭhakaṃ pāvisi. Thero udakaṃ apassanto “kahaṃ udakaṃ, āvuso”ti āha. Daharo aggisālaṃ gantvā bhājane uḷuṅkaṃ otāretvā tucchabhāvaṃ ñatvā “passatha duṭṭhassa kammaṃ tucchabhājanaṃ uddhane āropetvā kuhiṃ gato, ahaṃ ‘koṭṭhake udaka’nti saññāya ārocesi”nti ujjhāyanto ghaṭaṃ ādāya titthaṃ agamāsi. Itaropi piṭṭhikoṭṭhakato udakaṃ āharitvā koṭṭhake ṭhapesi.

Thero cintesi – “ayaṃ daharo ‘udakaṃ me tāpetvā koṭṭhake ṭhapitaṃ, etha, bhante, nhāyathā’ti vatvā idāni ujjhāyanto ghaṭaṃ ādāya titthaṃ gacchati, kiṃ nu kho eta”nti upadhārento “ettakaṃ kālaṃ esa daharo iminā kataṃ vattaṃ attanāva kataṃ viya pakāsetī”ti ñatvā sāyaṃ āgantvā nisinnassa ovādamadāsi, “āvuso, bhikkhunā nāma ‘attanā katameva kata’nti vattuṃ vaṭṭati, no akataṃ, tvaṃ idāneva ‘koṭṭhake udakaṃ ṭhapitaṃ, nhāyatha, bhante’ti vatvā mayi pavisitvā ṭhite ghaṭaṃ ādāya ujjhāyanto gacchasi, pabbajitassa nāma evaṃ kātuṃ na vaṭṭatī”ti. So “passatha therassa kammaṃ, udakamattakaṃ nāma nissāya maṃ evaṃ vadesī”ti kujjhitvā punadivase therena saddhiṃ piṇḍāya na pāvisi. Thero itarena saddhiṃ ekaṃ padesaṃ agamāsi. So tasmiṃ gate therassa upaṭṭhākakulaṃ gantvā “thero kahaṃ, bhante”ti puṭṭho “therassa aphāsukaṃ jātaṃ, vihāreyeva nisinno”ti āha. “Kiṃ pana, bhante, laddhuṃ vaṭṭatī”ti? “Evarūpaṃ kira nāma āhāraṃ dethā”ti vutte tena vuttaniyāmeneva sampādetvā adaṃsu. So antarāmaggeva taṃ bhattaṃ bhuñjitvā vihāraṃ gato. Theropi gataṭṭhāne mahantaṃ sukhumavatthaṃ labhitvā attanā saddhiṃ gatadaharassa adāsi. So taṃ rajitvā attano nivāsanapārupanaṃ akāsi.

Thero punadivase taṃ upaṭṭhākakulaṃ gantvā, “bhante, ‘tumhākaṃ kira aphāsukaṃ jāta’nti amhehi daharena vuttaniyāmeneva paṭiyādetvā āhāro pesito, paribhuñjitvā vo phāsukaṃ jāta”nti vutte tuṇhī ahosi. Vihāraṃ pana gantvā taṃ daharaṃ vanditvā nisinnaṃ evamāha – “āvuso, tayā kira hiyyo, idaṃ nāma kataṃ, idaṃ pabbajitānaṃ na anucchavikaṃ, viññattiṃ katvā bhuñjituṃ na vaṭṭatī”ti. So kujjhitvā there āghātaṃ bandhitvā “purimadivase udakamattaṃ nissāya maṃ musāvādiṃ katvā ajja attano upaṭṭhākakule bhattamuṭṭhiyā bhuttakāraṇā maṃ ‘viññattiṃ katvā bhuñjituṃ na vaṭṭatī’ti vadati, vatthampi tena attano upaṭṭhākasseva dinnaṃ, aho therassa bhāriyaṃ kammaṃ, jānissāmissa kattabbayuttaka”nti punadivase there gāmaṃ pavisante sayaṃ vihāre ohīyitvā daṇḍaṃ gahetvā paribhogabhājanāni bhinditvā therassa paṇṇasālāya aggiṃ datvā yaṃ na jhāyati, taṃ muggarena paharanto bhinditvā nikkhamitvā palāto. So kālaṃ katvā avīcimahāniraye nibbatti.

Mahājano kathaṃ samuṭṭhāpesi – “therassa kira saddhivihāriko ovādamattaṃ asahanto kujjhitvā paṇṇasālaṃ jhāpetvā palāto”ti. Atheko bhikkhu aparabhāge rājagahā nikkhamitvā satthāraṃ daṭṭhukāmo jetavanaṃ gantvā satthāraṃ vanditvā satthārā paṭisanthāraṃ katvā “kuto āgatosī”ti puṭṭho “rājagahato, bhante”ti āha. “Mama puttassa mahākassapassa khamanīya”nti? “Khamanīyaṃ, bhante, eko pana saddhivihāriko ovādamattena kujjhitvā paṇṇasālaṃ jhāpetvā palāto”ti. Satthā “na so idāneva ovādaṃ sutvā kujjhati, pubbepi kujjhiyeva. Na idāneva kuṭiṃ dūseti, pubbepi dūsesiyevā”ti vatvā atītaṃ āhari –

Atīte bārāṇasiyaṃ brahmadatte rajjaṃ kārente himavantapadese eko siṅgilasakuṇo kulāvakaṃ katvā vasi. Athekadivasaṃ deve vassante eko makkaṭo sītena kampamāno taṃ padesaṃ agamāsi. Siṅgilo taṃ disvā gāthamāha –

“Manussasseva te sīsaṃ, hatthapādā ca vānara;
Atha kena nu vaṇṇena, agāraṃ te na vijjatī”ti. (jā. 1.4.81);

Makkaṭo “kiñcāpi me hatthapādā atthi, yāya pana paññāya vicāretvā agāraṃ kareyyaṃ, sā me paññā natthī”ti cintetvā tamatthaṃ viññāpetukāmo imaṃ gāthamāha –

“Manussasseva me sīsaṃ, hatthapādā ca siṅgila;
Yāhu seṭṭhā manussesu, sā me paññā na vijjatī”ti. (jā. 1.4.82);

Atha naṃ “evarūpassa tava kathaṃ gharāvāso ijjhissatī”ti garahanto siṅgilo imaṃ gāthādvayamāha –

“Anavaṭṭhitacittassa, lahucittassa dubbhino;
Niccaṃ addhuvasīlassa, sukhabhāvo na vijjati.

“So karassu ānubhāvaṃ, vītivattassu sīliyaṃ;
Sītavātaparittāṇaṃ, karassu kuṭavaṃ kapī”ti. (jā. 1.4.83-84);

Makkaṭo “ayaṃ maṃ anavaṭṭhitacittaṃ lahucittaṃ mittadubbhiṃ addhuvasīlaṃ karoti, idānissa mittadubbhibhāvaṃ dassessāmī”ti kulāvakaṃ viddhaṃsetvā vippakiri. Sakuṇo tasmiṃ kulāvakaṃ gaṇhante eva ekena passena nikkhamitvā palāyi.

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā jātakaṃ samodhānesi – “tadā makkaṭo kuṭidūsakabhikkhu ahosi, siṅgilasakuṇo kassapo ahosī”ti. Jātakaṃ samodhānetvā “evaṃ, bhikkhave, na idāneva, pubbepi so ovādakkhaṇe kujjhitvā kuṭiṃ dūsesi, mama puttassa kassapassa evarūpena bālena saddhiṃ vasanato ekakasseva nivāso seyyo”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Carañce nādhigaccheyya, seyyaṃ sadisamattano;
Ekacariyaṃ daḷhaṃ kayirā, natthi bāle sahāyatā”ti.

Tattha caranti iriyāpathacāraṃ aggahetvā manasācāro veditabbo, kalyāṇamittaṃ pariyesantoti attho. Seyyaṃ sadisamattanoti attano sīlasamādhipaññāguṇehi adhikataraṃ vā sadisaṃ vā na labheyya ce. Ekacariyanti etesu hi seyyaṃ labhamāno sīlādīhi vaḍḍhati, sadisaṃ labhamāno na parihāyati, hīnena pana saddhiṃ ekato vasanto ekato saṃbhogaparibhogaṃ karonto sīlādīhi parihāyati. Tena vuttaṃ – “evarūpo puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo aññatra anuddayā aññatra anukampā”ti (pu. pa. 121; a. ni. 3.26). Tasmā sace kāruññaṃ paṭicca “ayaṃ maṃ nissāya sīlādīhi vaḍḍhissatī”ti tamhā puggalā kiñci apaccāsīsanto taṃ saṅgaṇhituṃ sakkoti, iccetaṃ kusalaṃ. No ce sakkoti, ekacariyaṃ daḷhaṃ kayirā ekībhāvameva thiraṃ katvā sabbairiyāpathesu ekakova vihareyya. Kiṃ kāraṇā? Natthi bāle sahāyatāti sahāyatā nāma cūḷasīlaṃ majjhimasīlaṃ mahāsīlaṃ dasa kathāvatthūni terasa dhutaṅgaguṇā vipassanāguṇā cattāro maggā cattāri phalāni tisso vijjā cha abhiññā. Ayaṃ sahāyatāguṇo bālaṃ nissāya natthīti.

Desanāvasāne āgantuko bhikkhu sotāpattiphalaṃ patto, aññepi bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu, desanā mahājanassa sātthikā ahosīti.

Mahākassapattherasaddhivihārikavatthu dutiyaṃ.

V. 2. The Rebellious Pupil

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

61. Should a man fail to find a companion who is his better or his equal,
He should resolutely pursue a solitary course. One cannot be friends with a simpleton.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to a pupil of Elder Kassapa the Great.

The story goes that while the Elder was in residence at Pipphali Cave, he had two pupils to wait upon him. One of these performed his duties faithfully, but the other frequently shirked his duties and sought to take credit for work really done by his brother-pupil. For example, the faithful pupil would set out water for washing the face, and a tooth-stick. Knowing this, the faithless pupil would go to the Elder and say, “Reverend Sir, water for washing the face is set out, and a tooth-stick. Go wash your face.” And when it was time to prepare water for bathing the feet and for the bath, he would pursue the same tactics.

The faithful pupil thought to himself, “This fellow is constantly shirking his work and is seeking to take credit for my work. Very well! I will attend to him.” So one day, while the faithless pupil was asleep after a meal, he heated water for the bath, poured it into a water-jar, and set it in the back room, leaving only a pint-pot of water steaming in the boiler. In the evening the faithless pupil woke up and saw steam coming out. “He must have heated water and put it in the bathroom,” thought he. So he went quickly to the Elder, bowed, and said, “Reverend Sir, water has been placed in the bathroom; go and bathe.” So saying, he accompanied the Elder to the bathroom. But when the Elder saw no water, he said, “Brother, where is the water?” The youth went to the room where the fire was kept, and lowering a ladle into the boiler, perceived that it was empty. “See what the rascal has done!” he exclaimed. “He has set an empty boiler on the brazier, and then gone – who knows where? Of course I thought there was water in the bathroom and went and told the Elder so.” Much put out, he took a water-jar and went to the bathing-place on the river.

When the faithful pupil returned, he brought water from the back room and set it in the bathroom. The Elder thought to himself, “I supposed that this young fellow had heated water for me, for he came to me and said, ‘Water has been placed in the bathroom; come and bathe.’ But just now, in a fit of irritation, he took a water-jar and went to the bathing-place on the river. What can this mean?” After considering the matter, he came to the following conclusion, “All this time this young fellow has been shirking his duties and has sought to take credit for work really done by his brother-pupil.”

When the faithless pupil returned and sat down, the Elder admonished him, saying, “Brother, a monk ought not to say he has done a thing unless he has done it. For example, just now you came to me and said, ‘Reverend Sir, water has been placed in the bathroom; come and bathe.’ But when I went in, you were annoyed and took a water-jar and went out. One who has become a monk should not do so.” The pupil was highly offended. Said he to himself, “See what the Elder has done! What a way to talk to me just because of a few drops of water!” On the following day he refused to accompany the Elder on his rounds. The Elder therefore took his other pupil with him to a certain place.

While he was away, the faithless pupil went to the house of a layman who was a supporter of the Elder. The layman asked him, “Reverend Sir, where is the Elder?” “The Elder doesn’t feel well, and therefore remained at the monastery.” “What then should he have, Reverend Sir?” “Give him such and such food,” said the novice, pretending that the Elder had told him to ask for it. Accordingly they prepared food such as he asked for, and gave it to him. He took the food, ate it himself on the way back, and returned to the monastery.

Now the Elder had received from his supporter robes of great size and fine texture, and these he presented to the novice who accompanied him. The novice dyed them and converted them into under and upper garments for himself. On the following day the Elder went to the house of his supporter. “Reverend Sir,” said they, “your novice told us that you were not feeling well, and therefore we prepared food such as he suggested and sent it to you. Evidently, after eating it, you recovered.” The Elder said nothing, but returned to the monastery. In the evening, when the faithless novice came in and after bowing to him sat down, the Elder said to him, “Brother, yesterday, I am informed, you did such and such. Such conduct ill becomes those who have renounced the world. You should not eat food which you got for another by hinting.”

The novice was provoked and conceived a grudge against the Elder. He said to himself, “Yesterday, just because of a few drops of water, he called me a liar. To-day, just because I ate a fistful of food his supporter gave me, he said to me, ‘You should not eat food which you got for another by hinting.’ Besides that, he gave an entire set of robes to his other pupil. Oh, the Elder has treated me very badly! I shall find some way of getting even with him.”

On the following day, when the Elder entered the village for alms, leaving him alone in the monastery, he took a stick, broke all the vessels used for eating and drinking, set fire to the Elder’s hut of leaves and grass, smashed to pieces with a hammer everything that didn’t burn, and ran away. When he died, he was reborn in the Great Hell of Avīci.

The populace discussed the incident: “They say that a pupil of the Elder, unable to endure a slight rebuke, took offense, set fire to the Elder’s hut of leaves and grass, and ran away.” Some time afterwards a certain monk left Rājagaha, and desiring to see the Teacher, came to Jetavana and paid obeisance to the Teacher. The Teacher greeted him in a friendly manner and asked, “Whence have you come?” “From Rājagaha, Reverend Sir.” “Is all well with my son Kassapa the Great?” “All is well with him, Reverend Sir. But a certain pupil of his, taking offense at a slight rebuke, set fire to his hut of leaves and grass and ran away.” Said the Teacher, “This is not the first time he has taken offense at receiving an admonition. He did the same thing in a previous state of existence also. This is not the first time he has destroyed a house. He did the same thing in a previous state of existence also.” So saying, he related the following

2 a. Story of the Past: The monkey and the siṅgila bird

In times long past, when Brahmadatta reigned at Benāres, a siṅgila bird built him a nest and made his home in the Himālaya country. Now one day, while it was raining, a monkey came there shivering with the cold. The siṅgila saw him and pronounced the following Stanza,

Monkey, your head and your hands and your feet are just like a man’s.
What excuse have you, pray, for having no house?

The monkey thought to himself, “It is true that I have hands and feet; but I lack the intelligence to build a house.” And desiring to make his meaning clear, he pronounced the following Stanza,

Siṅgila, my head and my hands and my feet are indeed just like those of a man;
But as for what they say is man’s highest endowment, intelligence, I have it not.

The bird thought, “To live in a house would never do for one like you.” And out of scorn for the monkey he pronounced the two following Stanzas,

He that is unstable, light-minded, and treacherous.
He that never keeps the moral precepts, such a one will never attain happiness.

Monkey, exert yourself to the utmost, abandon your past habits.
Build yourself a hut to protect yourself from the cold and the wind.

The monkey said to himself, “This bird calls me unstable, light-minded, treacherous to my friends, one who never keeps the moral precepts. Very well! Now I will show him what happiness is.” So saying, he destroyed the nest and scattered it to the winds. When the monkey seized the nest, the bird slipped out and flew away.

When the Teacher had given this religious instruction, he identified the characters in the Jātaka as follows, “At that time the monkey was the novice that destroyed the house; the siṅgila bird was Kassapa.” And he said, “Monks, this is not the first time the novice took offense at an admonition and destroyed a house. He did the same thing in a previous state of existence also. It were better for my son Kassapa to live alone than to live with such a simpleton.” So saying, he pronounced the following Stanza,

61. Should a man fail to find a companion who is his better or his equal,
He should resolutely pursue a solitary course. One cannot be friends with a simpleton.

  1. This story follows closely Jātaka 321: iii. 71-74. Text: N ii. 19-25.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề