Giới và đời sống cư sĩ

Chọn bạn thế nào? Bạn thật, bạn giả theo lời Phật

Ai cũng có lúc tự hỏi: người bên cạnh mình có thật sự là bạn không, hay chỉ vui khi mình có tiền, có chuyện để cùng ăn nhậu? Đức Phật nói về bạn bè rất cụ thể, từ chuyện đời thường đến chuyện lớn của cả con đường tu.

Tóm lại: Theo SN 45.2, bạn lành là “toàn bộ” đời sống phạm hạnh chứ không chỉ một nửa. Theo Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31), có bốn hạng người “tự cho là bạn” nhưng không phải bạn (vật gì cũng lấy, chỉ biết nói giỏi, nịnh hót, rủ ăn chơi xa xỉ) và bốn hạng bạn chân thật (giúp đỡ, chung thủy khổ vui, khuyên điều lợi ích, có lòng thương tưởng). Pháp Cú khuyên thân người bạn lành và người dám chỉ lỗi cho mình. Kinh còn dạy cách làm bạn tốt: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt.

Bạn lành là cả con đường, không phải một nửa

Tôn giả Ānanda từng thưa với Đức Phật rằng thiện bạn hữu (có bạn lành) là một nửa đời sống phạm hạnh, tức đời sống thanh tịnh của người tu. Đức Phật đáp:

—Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ānanda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.

Tương Ưng Bộ 45.2

Kinh nói thêm rằng với người có bạn lành như vậy, điều đáng chờ đợi là “Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn” (SN 45.2). Thánh đạo Tám ngành là Bát chánh đạo. Theo cách đọc của người viết, ba từ “thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình” cùng chỉ một điều: người đồng hành lành mạnh bên cạnh mình. Kinh nói với Tôn giả Ānanda, một Tỷ-kheo; theo cách đọc của người viết, lời này cũng hợp với người tại gia.

Bốn hạng người chỉ tự nhận là bạn

Trong Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31), Đức Phật nói với chàng gia chủ trẻ: “có bốn hạng người phải xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn”. Mỗi hạng được tả bằng dấu hiệu cụ thể:

  • Người vật gì cũng lấy: “cho ít xin nhiều, vì sợ mà làm, làm vì mưu lợi cho mình”.
  • Người chỉ biết nói giỏi: “mua chuộc cảm tình bằng sáo ngữ; khi có công việc, tự tỏ sự bất lực của mình”.
  • Người nịnh hót: “Đồng ý các việc ác; không đồng ý các việc thiện; trước mặt tán thán; sau lưng chỉ trích”.
  • Người tiêu pha xa xỉ: “Là bạn khi mình đam mê các loại rượu; là bạn khi mình du hành đường phố phi thời; là bạn khi mình la cà đình đám hý viện; là bạn khi mình đam mê cờ bạc”.

Theo cách đọc của người viết, bốn hạng có chung một điểm: tình bạn dựa vào cái lợi hoặc cái vui trước mắt. Đoạn này kết bằng kệ: “Cả bốn, không phải bạn, / Biết vậy, người trí tránh, / Như đường đầy sợ hãi.” Chữ “tránh” là của kinh; còn cư xử cụ thể với một người bạn cũ thì mỗi người tự cân nhắc, đó là lời nhắc của người viết, không phải lời kinh.

Bốn người bạn chân thật

Cũng trong DN 31, Đức Phật nêu bốn hạng bạn đáng giữ: “Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.”

Có hai dấu hiệu đáng để ý. Người bạn khuyên điều lợi ích thì “Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe”. Người bạn có lòng thương tưởng thì “Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn”.

Thử hình dung chị Lan định bỏ một việc đang ổn chỉ vì giận sếp. Một người bạn khen chị làm đúng. Người bạn kia hỏi chị đã nghĩ kỹ chưa. Câu hỏi thứ hai làm chị khó chịu một chút, nhưng người hỏi đang đứng về phía chị. Đây là ví dụ của người viết, nhằm minh họa dấu hiệu “khuyên điều lợi ích”.

Và hãy là người bạn như vậy trước

DN 31 không chỉ dạy cách chọn bạn mà còn dạy cách làm bạn. Người thiện nam tử đối xử với bạn bè theo năm cách: “Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt.” Tạm hiểu là: biết cho đi, nói lời dịu, làm điều có ích cho bạn, cùng chia sẻ việc, và không lừa dối.

Hai kệ Pháp Cú nên nhớ

Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân.
Hãy thân người bạn lành,
Hãy thân bậc thượng nhân.

Pháp Cú 78

Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.

Pháp Cú 76

Theo cách đọc của người viết, hai kệ bổ sung cho nhau: người đáng thân không phải người chỉ khen mình, mà là người dám chỉ lỗi cho mình một cách tử tế.

Một gợi ý nhỏ

Viết tên ba người bạn gần nhất, rồi hỏi hai câu: người ấy có dám nói điều khó nghe một cách tử tế không, và mình có là người như vậy với họ không? Muốn đọc nguyên văn, xem Kinh Thi-ca-la-việt và Kinh Thiện Hữu. Về chuyện lời nói sau lưng, có bài Nói xấu sau lưng và bị nói xấu.

Hỏi nhanh

Làm sao biết ai là bạn thật?

Theo DN 31, bạn chân thật là người giúp đỡ, chung thủy lúc khổ lúc vui, khuyên điều lợi ích và có lòng thương tưởng; kinh nêu dấu hiệu cụ thể cho từng hạng.

Có phải cắt đứt với mọi người bạn xấu không?

DN 31 nói bốn hạng người kia “phải xem không phải bạn” và người trí tránh; Dhp 78 khuyên “Chớ thân với bạn ác”. Cách cư xử với từng người cụ thể, kinh không nói chi tiết, nên mỗi người tự cân nhắc.

Người hay nói điều khó nghe có phải bạn tốt không?

Dhp 76 ví người chỉ lỗi như người chỉ chỗ chôn vàng, và DN 31 kể người bạn khuyên điều lợi ích là bạn chân thật. Điều kiện là lời nói tử tế, vì kinh cũng kể người bạn “ngăn chận những ai nói xấu bạn”.

Muốn làm một người bạn tốt thì làm gì?

DN 31 nêu năm cách đối xử với bạn: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 45.2, Kinh Một Nửa (Upaddha), bản HT. Thích Minh Châu, SN 45.2 trên SuttaCentral; bản Hoan Hỉ Kinh Thiện Hữu (SN 45.2).
  2. Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Sigālovāda), bản HT. Thích Minh Châu, DN 31 trên SuttaCentral; bản Hoan Hỉ Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31).
  3. Pháp Cú, kệ 76 và 78, bản HT. Thích Minh Châu, Pháp Cú, Phẩm Hiền Trí (Dhp 76–89) trên Hoan Hỉ.
  4. Các câu trong ngoặc kép và các khối trích là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu; phần diễn giải ngoài ngoặc kép và phần ghi “cách đọc của người viết” là của người viết.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh

Đọc thêm