Tích Đức Sakka
Maghavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 30 Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 30)
“Appamādena maghavā,
“Nhờ chuyên cần Ma già,
Devānaṃ seṭṭhataṃ gato; Thành vua trời Đao Lợi. Appamādaṃ pasaṃsanti, Chuyên cần được ngợi khen, Pamādo garahito sadāti” Phóng dật thường bị la”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự an trong giảng đường Trùng Các (Kūṭagārasālā), gần thành Vesālī, đề cập đến Thiên Vương Sakka (Đế Thích), tục gọi là Đức Ngọc Hoàng.
Thời ấy, trong thành Vesālī (Quảng Nghiêm) có một vương tử tên là Mahāli, thuộc dòng Licchavī.
Một hôm, được nghe Đức Bổn Sư thuyết lên bài kinh Sakkapañha (Đế Thích Vấn Đạo). Vương tử nghĩ rằng: “Đức Chánh Biến Tri đã thuyết pháp đề cao, ca tụng quyền lực của Đức Đế Thích, là do Ngài đã thấy rồi thuyết, hay là Ngài chưa thấy mà thuyết. Do Ngài quen Đức Đế Thích hay là không quen? Ta phải hỏi lại Ngài mới được”.
Thế rồi vương tử Mahāli đến gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài xong rồi, ngồi qua một bên. Khi đã ngồi yên vương tử bạch hỏi Đức Thế Tôn:
- Bạch Ngài! Ngài có thấy Thiên Vương Đế Thích hay chưa?
- Nầy Mahāli! Ta đã thấy Thiên Vương Đế Thích rồi.
- Bạch Ngài! Nếu thật là Thiên Vương Đế Thích thì khó thấy, khó biết lắm. Sợ e Ngài đã thấy lầm vị nào giống như Thiên Vương Đế Thích chăng?
Nầy Mahāli! Ta biết rõ Đế Thích, ta biết rõ cả những pháp nào mà Đế Thích thọ trì và thực hành mới được làm chúa cõi chư Thiên. Nầy Mahāli, Đế Thích Hoàn Nhân (Sakkadevānamindo), do kiếp trước ở cõi nhân gian là một thanh niên tên Magha, cho nên được gọi là đức Maghavā. Nầy Mahāli, Đức Đế Thích do kiếp trước ở nhân loại đã bố thí tròn đủ nên được gọi là Purindado (Đức Viên Mãn Thí). Nầy, Mahāli, Đức Đế Thích do kiếp trước ở cõi nhân gian đã bố thí đắc lực, cho nên được gọi là đấng Sakka (Năng Thiên). Nầy Mahāli, Đức Đế Thích do kiếp trước ở cõi nhân gian đã bố thí chỗ trú, nên được gọi là Vāsava (Lưu Ngụ Thí). Nầy Mahāli, do kiếp trước ở cõi nhân gian, mỗi giây phút nghĩ ra được hàng ngàn việc lợi ích, mỗi giây phút nghĩ ra được hàng ngàn việc lợi ích, cho nên Đức Đế Thích được gọi là Sahassacakkhu (Thiên Nhãn). Nầy Mahāli, do làm chồng của nàng Sujātā là Công chúa cõi Asura (A Tu La) nên có danh hiệu là Sujampati (Đức Diệu Sanh Phu). Nầy Mahāli, do là vị lãnh chúa, ngự trị trên cõi Tam thập tam thiên (Tāvatiṃsa), nên có danh hiệu là Devānamindo (Đức Đề Hoàn nhân). Nầy Mahāli, Đức Đế Thích kiếp trước ở cõi nhân gian đã hành theo bảy hạnh công đức mà được làm vua cõi chư Thiên. Thế nào là bảy?
1. Hạnh nguyện suốt đời phụng dưỡng song thân.
2. Suốt đời tôn kính các bậc trưởng thượng.
3. Hạnh nguyện suốt đời nói lời chân thật.
4. Hạnh nguyện suốt đời không nói lời đâm thọc.
5. Hạnh nguyện suốt đời rửa lòng thật sạch bợn nhơ
bỏn xẻn, là người tại gia cư sĩ mà xả bỏ của cải bố
thí không chút luyến tiếc, để đáp ứng nhu cầu của
kẻ đến xin.
6. Hạnh nguyện suốt đời nói lời dịu ngọt.
7. Hạnh nguyện suốt đời không phẫn nộ, nếu có sân
hận nổi lên thì mau dập tắt.
Nầy Mahāli! Đức Đế Thích do kiếp trước ở cõi nhân gian đã thành tựu bảy thứ công hạnh: Sự thân, tôn trưởng, cam ngôn, cô lưỡng thiệt, hảo tâm, chơn ngữ vô nộ như thế nên mới được làm chúa cung trời Đao Lợi.
“Mātāpettibharaṃ jantuṃ,
Kule jeṭṭhāpacāyinaṃ;
Saṇhaṃ sakhilasambhāsaṃ,
Pesuṇeyyappahāyinaṃ.
Maccheravinaye yuttaṃ,
Saccaṃ kodhābhibhuṃ naraṃ;
Taṃ ve devā tāvatiṃsā,
Āhu sappuriso itīti”
“Nuôi song thân trọn niềm hiếu đạo.
Biết kính nhường Trưởng lão trong nhà.
Nói năng êm ái dịu hòa.
Những thói đâm thọc, điêu ngoa chẳng dùng.
Hằng dứt bỏ được lòng rít róng.
Lời chánh chơn, tánh nóng dẹp yên.
Người có Đao Lợi chư Thiên,
Tôn xưng quân tử đại hiền trượng phu”
Nầy Mahāli! Đó là nghiệp lành mà Đức Đế Thích đã tạo trong kiếp làm thanh niên Magha vậy.
Đức Bổn Sư vừa dứt lời vương tử Mahāli muốn biết thêm chi tiết về những thiện hạnh của Đức Đế Thích, bèn bạch hỏi rằng:
- Bạch Ngài! Chẳng hay thanh niên Magha đã thực thi những hạnh công đức như thế nào?
- Thế thì, nầy Mahāli ông hãy lắng nghe.
Phán rồi, Đức Thế Tôn bắt đầu kể chuyện tiền thân của Đức Đế Thích.
Thuở xưa, trong làng Acalagāma (Bất Đồng) thuộc Magadha, có một thanh niên tên là Magha. Chàng Magha đến cư ngự trong làng từ lúc mới lập thôn ấp, đất đai hãy còn nhiều chỗ hoang vu. Ban đầu chàng xí một miếng đất rừng, phát dọn khang trang thành một nơi lạc thổ. Cất nhà lên để ở, thì một kẻ khác đến đánh đá, đuổi đi và chiếm đoạt chỗ ở của chàng.
Magha cũng chẳng chút giận hờn chi kẻ đã hiếp đáp mình, lại phát dọn một sở đất khác cho sạch sẽ, đẹp đẽ rồi lại cất nhà khác để ở. Làm xong nhà, chàng lại bị kẻ khác đến đánh chiếm dành chỗ nhà, không cho chàng ở.
Magha cũng chẳng giận chi kẻ bất lương, chỉ lo khai thác đất hoang cho bằng phẳng, cất nhà ở một chỗ khác. Hễ cất nhà xong là chàng bị kẻ khác đuổi đi, dọn đất thì bị chiếm đất, thanh niên Magha bị những kẻ mạnh áp chế để cướp đoạt chàng một cách trắng trợn như thế nhiều lần, nên cứ phải đi mãi. Tuy vậy chàng vẫn hoan hỷ tự nhủ rằng: “Tất cả mọi người đều được an vui, chính ta là người ban sự an vui cho họ, tức là ta đã tạo phước cho ta về sau vậy”.
Nhờ có tâm quảng đại như thế, thanh niên Magha không chút ưu phiền. Hôm sau, chàng lại vác cuốc đi dẫy cỏ, ban đất, dọn thành một cái sân rộng lớn, sạch sẽ khang trang, cất lên một phước xá. Tất cả mọi người đến ngự đều được Magha cung cấp củi lửa trong mùa lạnh và nước tắm trong mùa nóng.
Từ khi hoàn thành ngôi an lạc cảnh nầy về sau Magha được lòng yêu mến của mọi người thọ ơn, không ai còn ganh ghét chàng nữa cả.
Thấy việc làm phước của mình có kết quả tốt đẹp, thanh niên lại nghĩ rằng: “Từ nay về sau ta nên đắp đường bồi lộ cho thiên hạ đi”. Mỗi buổi sáng, chàng ra đi sửa sang đường sá cho bằng phẳng, lượm hết rác rến, nhánh cây gãy nằm ở giữa đường.
Khi ấy, có người thấy thanh niên Magha làm như vậy bèn hỏi:
- Nầy anh, làm cái chi vậy?
- Anh ạ! Tôi làm con đường đi lên cõi trời.
- Nếu vậy, anh cho tôi làm chung cho có bạn.
- Được thôi, anh hãy làm chung với tôi. Ở cõi trời có nhiều người cũng là tốt.
Từ đó, có được hai người chung một chí hướng, nhiều người khác thấy họ làm việc công ích, hỏi thăm và xin gia nhập vào đoàn. Số bạn của Magha tăng lên dần dần, sau cùng thành một nhóm ba mươi ba người.
Ngày nào họ cũng vác cuốc ra đồng để sửa soạn con đường, làm thành một quãng dài độ hai do tuần.
Thấy công tác do nhóm thanh niên Magha lãnh đạo viên Hương quản (Gāmabhojaka) nghĩ bụng: “Những người nầy chỉ lo làm việc tốn công vô ích, phải chi họ đi rừng kiếm cá thịt đem về, hoặc là nấu rượu ăn nhậu chơi, hoặc làm cái chi khác mà ta có thể kiếm chác, liếm láp chút đỉnh…”.
Thế rồi viên Hương quản sai chú trùm đi mời nhóm thanh niên ấy đến công sở và hỏi:
- Mấy chú làm cái chi vậy?
- Dạ thưa Hương quản, làm đường lên trời.
- Những người có nhà cửa gia đình chẳng nên làm vậy. Tốt hơn nên vào rừng kiếm cá thịt, rau trái đem về, hoặc nấu rượu nhậu chơi, hoặc làm việc chi khác nữa kìa.
Mặc dầu viên Hương quản nhắc đi nhắc lại nhiều lượt như thế. Nhóm thanh niên cũng chẳng chịu nghe theo viên Hương quản nổi giận nói rằng:
- Ta sẽ làm cho lũ nầy phải chết hết.
Ông ta vào triều tâu với Quốc vương: “Muôn tâu Thiên tử! Y chức có thấy nhiều kẻ cướp kết bè lập đảng để đi nhiễu hại lương dân”.
Quốc vương phán rằng: “Trẫm phú cho khanh nã tróc bọn ấy đem nạp triều đình”.
Được lịnh Quốc vương viên Hương quản bắt hết nhóm thanh niên áp giải về triều.
Quốc vương không cần tra xét, lập tức ra lịnh:
- Hãy cho voi dày bọn ấy.
Magha bình tĩnh khuyên nhủ các bạn:
- Nầy anh em, trừ tâm từ ái chúng ta không còn chỗ nào để nhờ cậy. Anh em đừng có chút gì buồn giận đức vua với viên Hương quản và con voi sẽ dày đạp mình. Anh em hãy rải từ tâm và giữ tâm bình tĩnh.
Cả nhóm đã làm như thế, khi ấy do oai lực từ tâm của những người vô tội, con voi không dám lại gần họ.
Quốc vương nghe quân phúc trình việc nầy thì nghĩ rằng:
- Chắc là tại nó thấy đông người nên không dám dày đạp họ.
Ngài bèn ra lịnh: “Hãy lấy đệm phủ lên mình bọn ấy rồi thả voi ra cho dày đạp”.
Con voi được thả ra cho dày đạp nhóm người bị trùm đệm, thấy họ nó càng lảng tránh ra xa. Khi nghe thông báo rõ việc nầy, Quốc vương sanh nghi: “Chắc là có điều chi uẩn khúc?”.
Quốc vương cho áp giải toán thanh niên vào triều và phán hỏi:
- Nầy các khanh! Tại sao các khanh không tuân hành luật vua phép nước như vậy?
- Muôn tâu Thánh hoàng! Chúng thần có làm chi phạm pháp đâu?
- Có người tố cáo các khanh là những tên cướp kết bè đảng với nhau, đi lẩn lút trong rừng.
- Tâu Thánh thượng! Ai tố cáo như thế?
- Viên Hương quản các khanh ạ.
- Muôn tâu Thánh hoàng, chúng con không phải là kẻ cướp, chúng con tự lo sửa sang, quét dọn con đường lên thiên giới. Nếu có làm việc nầy việc nọ viên Hương quản xúi bảo chúng con làm điều bất thiện không được, ông ta muốn hãm hại chúng con, nên mới vu khống như thế.
Sau khi nghe lời trần tình của nhóm thanh niên ham làm việc nghĩa. Quốc vương rất đẹp dạ, phán rằng:
- Nầy các khanh! Con thú nầy nó còn nhận biết ân đức của các khanh, trẫm là người không bì kịp nó, cho nên trót lỡ tin theo lời quấy của kẻ ngu si, không chịu tra xét cho minh bạch. Trẫm có sơ xuất, các khanh tha lỗi cho trẫm.
Quốc vương hạ lịnh bắt giam viên Hương quản và vợ con phải làm tôi tớ cho nhóm thanh niên, ban cho nhóm nầy con voi ấy để cỡi, cấp luôn làng Acalagāma cho họ được trọn quyền làm chủ, tùy ý sử dụng. Các thanh niên bảo nhau: “Chúng mình làm phước thì được phước, được thấy nhãn tiền rồi”. Họ càng phấn khởi phát tâm trong sạch.
Sau khi cỡi voi dạo khắp làng, họ lại trù tính như vậy: “Bây giờ chúng ta nên làm một công tác phước thiện đặc biệt”.
- Chúng ta sẽ làm gì?
- Nơi ngã tư đường cái, ta sẽ lập một ngôi An dưỡng đường (vissamanasālā) bình dân, thật bền chắc lâu dài.
- Phải rồi.
Sau khi đã đồng ý, họ kêu thợ mộc làm ngôi An dưỡng đường. Vì không muốn có tên nữ nhân dự trong công việc của họ, nên họ không chịu cho phụ nữ hùn phước trong việc tạo tác ngôi dưỡng đường.
Chàng Magha có bốn cô vợ là: Sunandā, Sucittā, Sudhammā và Sujātā, bốn nàng đều có nhà ở riêng.
Nàng Sudhammā nghe các thanh niên không cho nữ nhân hùn phước, nàng tìm đến ông thợ mộc mật đàm rằng:
- Nầy bác ơi! Bác làm thế nào cho cháu được đứng tên làm chủ ngôi giảng đường nầy.
Nàng trao tặng cho người thợ mộc tiền nước rất trọng hậu, ông nhận lời nói rằng: “Được rồi”.
Lúc khởi công, người thợ mộc chọn cây ván, phơi khô, bào đục, làm thành tấm bảng hiệu trước hết và khắc mấy chữ là: “An dưỡng đường Sudhammā”. Xong rồi dùng vải bao lại, để riêng một nơi.
Khi đã đốc xuất làm xong ngôi An dưỡng đường. Vào ngày trương bảng hiệu để khánh thành. Ông thợ mộc giả vờ nói:
- Ông ơi! Có một việc mà tôi quên mất.
- Việc chi vậy bác?
- Còn thiếu tấm bảng.
- Để chúng tôi mang cây ván đến cho bác làm.
- Bây giờ dùng ván mới sẽ không làm kịp. Phải kiếm cho được tấm bảng ván phơi khô sẵn bào đục từ trước để dành cho đến bây giờ mới được.
- Thế thì phải làm sao?
- Nếu như ai có làm sẵn bảng để dành bán thì mình hãy nài lại họ.
Nhóm thanh niên đi kiếm tấm bảng để mua, gặp được tấm bảng trong nhà của Sudhammā, trả giá đến ngàn đồng vàng, cũng không mua được. Nàng nói: “Tôi không cần tiền bạc chi cả. Nếu các anh cho tôi được hùn phước tạo tác ngôi An dưỡng đường thì tôi biếu không tấm bảng nầy”.
Nghe vậy, các chàng thanh niên đáp:
- Chúng tôi đã qui định không cho nữ nhân hùn
phước.
Khi ấy ông thợ mộc xen vào can thiệp:
- Thưa quí ngài! Sao quí ngài lại tính như thế, trừ ra cõi Phạm Thiên, ngoài ra không có cõi nào không có nữ nhân. Quí Ngài nên nhận tấm bảng đã sẵn sàng như thế nầy đi, để khánh thành ngôi An dưỡng đường cho xong. Xong việc rồi chúng tôi còn đi nơi khác nữa.
Nhóm thanh niên bằng lòng nhận tấm bảng đem về, dựng lên khánh thành ngôi An dưỡng đường.
Cơ sở kiến trúc nầy được chia làm ba khu, khu thứ nhất để cho chủ nhân ở, khu thứ nhì để cho bần nhân và khu thứ ba để cho bịnh nhân trú.
Ba mươi ba chàng thanh niên lót ba mươi ba tấm ván, rồi ra dấu cho con voi hiểu rằng: “Nếu khách đến ngồi trên tấm ván của người nào lót, thì hãy đưa khách đến nhà người ấy: chủ tấm ván ấy làm tất cả phận sự để phục dịch khách lạ mới đến, như là đấm bóp tay chân, đấm lưng, cung cấp vật thực cứng mềm, xếp dọn chỗ ngủ…”.
Con voi hiểu ý chủ nhân, hễ thấy khách lạ đến ngồi vào tấm ván nào, thì nó đưa khách đến gặp chủ tấm ván ấy. Và chủ nhân phải lo làm tất cả những gì cần phải làm trong ngày, để phục dịch khách. Cách An dưỡng đường không xa, Magha có trồng một cây Kovilāra và lót kê một phiến đá bằng mặt, nơi gốc cây ấy.
Thiên hạ khi vào An dưỡng đường, ai cũng nhìn lên tấm bảng và đọc mấy chữ: “An dưỡng đường Suddhammā” rồi nói:
- An dưỡng đường nầy của nàng Sudhammā. – Không ai nhắc đến tên ba mươi ba chàng thanh niên.
Khi ấy, nàng Sunandā suy nghĩ rằng: “Mấy anh ấy cất An dưỡng đường, không chịu cho nữ nhân hùn phước. Tuy vậy, nàng Sudhammā thông minh lịch lãm, đã biết dùng tấm bảng mà chia phước báu, ta cũng phải làm cái chi để tham dự phần nào. Bây giờ, ta sẽ phải làm gì đây?”. Tiếp đến, nàng Sunandā suy nghĩ rằng: “Khách xa mới đến cần nước để tắm rửa, để xài. Vậy ta mướn đào một hồ nước”. Và nàng Sunandā đã tạo được một hồ sen. Thấy vậy, nàng Sucittā nói thầm: “Dì Sudhammā làm phước được tấm bảng, chị Sunanda tạo được ao sen, còn phần ta phải làm chi đây?”. Để tạo phước nàng suy nghĩ:
- Khách đến An dưỡng đường, sau khi tắm rửa, uống nước, tắm mát xong, cần phải có hoa để cài lên mình mà đi. Vậy ta sẽ tạo vườn hoa.
Và nàng Sucittā đã tạo thành một lạc cảnh viên trồng đủ mọi hoa thơm cỏ lạ, mỹ miều khả ái, có đủ các thứ cây ăn quả chen vào với cây tòng, cây bá, xanh rợp cả bốn mùa.
Riêng nàng Sujātā thấy mọi người chung nhau tạo phước, nàng nghĩ rằng: “Ta là họ hàng bên ngoại và cũng là người nâng khăn sửa túi cho chàng Magha, những công tác của chàng thì cũng như của ta, những công việc của ta thì cũng chính là của chàng, chớ có khác chi đâu”.
Nghĩ vậy, nàng Sujātā không lo hùn phước, chỉ tối ngày lo điểm trang thân thể, trau giồi sắc đẹp mà thôi.
Còn chàng thanh niên Magha, suốt đời giữ đủ bảy hạnh: Sự thân, tôn trưởng, cam ngôn vô lưỡng thiệt, ly hận, chân thật vô nộ:
Nuôi song thân trọn niềm hiếu thảo.
Biết kính nhường Trưởng lão trong nhà.
Nói năng êm ái dịu hòa.
Những thói đâm thọc điêu ngoa chẳng dùng.
Hằng dứt bỏ được lòng rít róng.
Lời chánh chơn, tánh nóng dẹp yên.
Người đó Đao Lợi chư Thiên,
Tôn xưng quân tử, đại hiền, trượng phu.
Nhờ chuyên cần nhiệt tâm đáng đề cao như thế, sau khi mệnh chung Magha siêu sanh làm bậc Thiên Vương trên cung trời Đao Lợi. Những người bạn đồng chí của Magha cũng đều được sanh về đó cả, ông thợ mộc cũng sanh lên đó, là vị chư Thiên có tên là Vissakamma (Thiên Tử kiến trúc) vì là người thợ mộc kiến tạo An dưỡng đường (Vissamanasālā).
Thời bấy giờ, các Thiên thần Asura (Atula) còn ở trên Tam thập tam thiên (Tāvatiṃsabhavana), nhân dịp có những tân thiên tử mới sanh lên, họ liền mở tiệc rượu ăn mừng, uống ròng huỳnh tương tiên tửu (dibbapāna).
Đức Đế Thích ra lịnh nghiêm cấm các thuộc hạ của mình, không cho ai uống rượu. Các thần Asura cứ uống rượu tiên đến nỗi say mèm, nằm nghiêng ngửa.
Đức Đế Thích thấy vậy, bất bình phán rằng:
- Làm sao trẫm trị quốc với những kẻ buông lung nầy được. – Thiên Vương bèn lịnh cho tùy tướng của mình nắm chân bọn Asura say, quăng chúng xuống đại hải. Tuy bị rơi cắm đầu xuống biển, nhưng các thần Asura còn nhiều phước báu, nhờ đó mà một Asura thiên đường nhàn cảnh (Asuravimāne) phát sanh lên cho họ ở dưới chân núi Sineru. Một kinh đô cũng phát sanh lên có tên là Cittapātali (Mỹ La Thành).
Sau khi chiến thắng các Asura, ba mươi ba vị Thiên Chủ chiếm trọn cảnh giới Tāvatiṃsa rộng mười ngàn do tuần và nơi này được mệnh danh là cõi Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsadevanagara). Tàu âm là Đao Lợi Đế Hoàng thành. Thành nầy từ cửa Đông qua cửa Tây đo được mười ngàn do tuần và cửa Nam qua cửa Bắc cũng mười ngàn do tuần. Vòng thành có ngàn cái cửa, bên trong có hoa viên và hồ nước mát. Ngay trung tâm thành do phước kiến tạo An dưỡng đường có nổi lên một ngôi đền gọi là Tối Thắng Điện (Vejayanta) cao bảy trăm do tuần, làm bằng thất bảo (Sattaratana). Có cắm những đại kỳ cao ba trăm do tuần, những lá đại kỳ bằng ngọc Maṇi thì có cán bằng vàng, những lá đại kỳ bằng vàng thì cán là ngọc Maṇi. Những lá đại kỳ bằng trân châu có cán bằng san hô, lá đại kỳ bằng san hô thì cán bằng trân châu. Những lá đại kỳ bằng thất bảo thì cán cũng là thất bảo. Ngay chính giữa là Đại Chiến Thắng Kỳ đứng hùng dũng cao ba trăm do tuần.
Đó là phước tạo An dưỡng đường mà ngôi Vương điện làm bằng thất bảo, cao một ngàn do tuần phát sanh lên như thế. Các thiên trượng (pāricchattako) che phủ một khoảng tròn rộng một trăm do tuần phát sanh lên là nhờ phước trồng cây Kovilāra. Còn phước kê tảng đá bằng mặt, làm cho dưới chân Thiên Trượng phát sanh lên bảo tọa bằng thạch anh vàng (Paṇḍukambalasilā), có màu tươi sáng như hoa hồng nhung, dài sáu mươi do tuần, rộng năm mươi do tuần, cao cũng năm mươi do tuần. Ngai bảo tọa nầy tự động xọp xuống khi Thiên Vương ngự lên và sau đó tự động phồng lên như cũ khi Thiên Vương đứng dậy.
Con voi cũng được sanh về cõi Đao Lợi, là vị Thiên Tử có tên Erāvaṇa. Trên Thiên cung không có thú vật, cho nên mỗi khi Thiên Đế hay chư Thiên xuất hành ngự du ngoạn thì vị trời Erāvaṇa bỏ tướng chư Thiên, hóa hình thành voi Erāvaṇa cao lớn một trăm năm mươi do tuần cho vua cỡi. Vị Trời nầy còn hóa ra ba mươi ba ngà voi (kumbha) có ba mươi ba bảo tọa để ba mươi ba vị Thiên Chủ sử dụng, mỗi bảo tọa có bề tròn khoảng ¾ do tuần. Chính giữa là thiên kiệu dành cho Đức Đế Thích, cao ba mươi do tuần có tên là Sudassanaṃ (Thiện Kiến Đình). Trên mặt đình có ngôi nhà mát Bảo Đình tạ (Ratanamaṇḍapo) rộng độ mười hai do tuần. Nơi đây được trần liệt những thất bảo kỳ cao một do tuần, chung quanh mái đình tạ có treo một giàn chuông lạc, gọi là Linh Võng (Kinkiṇijāla), mỗi khi có làn gió nhẹ thoảng qua, lưới chuông nầy phát ra tiếng nhạc ngũ âm trầm bổng du dương, hòa nhã thanh thoát, nghe tựa như cung đàn tiếng địch trong động Thiên Thai.
Giữa ngôi đình tạ, một bảo tọa bằng ngọc Maṇi rộng độ một do tuần, được trang trí khéo léo, là nơi Đức Đế Thích ngự tọa.
Ba mươi ba vị chư Thiên đều ngồi trên bảo tọa trong thiên kiệu của mình.
Tất cả ba mươi ba thiên kiệu, mỗi cái đều được vị trời Erāvaṇa hóa ra đủ bảy ngà dài năm mươi do tuần. Trong mỗi ngà có một hồ sen, mỗi hồ sen có bảy cây hoa sen, mỗi cụm hoa sen có bảy hoa sen, mỗi hoa sen có bảy cánh sen, mỗi cánh hoa sen có bảy nàng thiên nữ đang vũ những khúc nghê thường. Trên khắp cả vũ trường rộng năm mươi do tuần, bảy ngà voi đều có lễ hội tưng bừng như nhau cả. Đức Thiên Vương tọa hưởng vinh quang, Ngài hằng đi du ngoạn khắp Thiên cảnh vĩ đại huy hoàng như thế.
Nàng Sudhammā mệnh chung cũng được sanh lên cõi Đao Lợi, tòa chư thiên hội rộng năm trăm do tuần phát sanh lên, có tên là Sudhammā là tên của nàng. Tòa bảo điện nầy nổi tiếng là nguy nga tráng lệ nhất, không nơi nào khác sánh kịp, hàng tháng, cứ đến ngày thứ tám, chư Thiên tề tựu về đây để nghe thuyết pháp, ai ai cũng trầm trồ ngợi khen rằng:
- Tất cả những thắng cảnh tân thời ta đã viếng, đều thua xa tòa Diệu Pháp Thiên Hội Đường nầy!
Nàng Sunandā sau khi chết sanh về cõi trời Đao Lợi cùng với một ao sen xinh đẹp rộng năm trăm do tuần.
Nàng Sucittā cũng sanh về cõi Đao Lợi, một vườn hoa kỳ ảo rộng năm trăm do tuần, có tên là Cittalatāvana (Cát Đàng Viên Citta) phát sanh lên cho nàng. Đó là nơi thu hút chư Thiên cõi Đao Lợi đến thưởng ngoạn một cách say mê. Vì đây là một cảnh trí đầy hương sắc và hằng thay đổi.
Riêng về nàng Sujātā, khi lâm chung bị đọa làm con cò mái ở trong một hang đá trên sườn núi.
Đức Thiên Vương nhớ đến bốn người vợ cũ, bèn dùng Thiên Nhãn ra quan sát, thấy nàng Sudhammā, Sunandā, Sucittā được sanh về Đao Lợi cung, riêng nàng Sujātā thì vắng mặt nơi đây. Nhìn xa xuống nhân gian, Đức Thiên Vương thấy nàng đang ở trong khổ cảnh thì nghĩ rằng: “Nàng nầy dại dột, không làm phước báu dù chỉ là ít oi, bây giờ phải mang lớp thú. Ta cũng nên nhắc nhở nàng tạo phước để được siêu sanh về đây”.
Nghĩ vậy, Đức Đế Thích biến hình hóa ra một người lạ mặt đến gần con cò mái và hỏi:
- Nàng làm gì lang thang ở đây vậy?
- Thưa, ông là ai?
- Ta là chồng của nàng, là Magha đây.
- Chàng hiện sanh về cảnh giới nào?
- Ta được sanh về Đao Lợi Thiên cung, ba cô bạn của nàng cũng được sanh lên đó. Nàng không biết sao?
- Thưa chàng! Em không biết.
- Nàng ráng cần tu khổ hạnh cho được sanh lên cõi của ta, thì sẽ tái ngộ ba cô bạn của nàng.
- Bây giờ, tôi lên cõi đó có được chăng?
- Được, để ta mang nàng lên cõi ấy.
Nói rồi, Đức Đế Thích đem con cò mái Sujātā lên cõi Đao Lợi, đặt nó đứng cạnh bờ hồ Sunandā, Ngài báo tin cho ba nàng Thiên hậu biết rằng:
- Ba nàng đã gặp nàng Sujātā chưa?
- Thưa Thiên chúa! Nàng ấy ở đâu?
- Đang đứng tại bờ hồ Sunandā.
Nghe vậy, cả ba nàng rủ nhau đến đó, trông thấy con cò mái, ba nàng kêu lên rằng:
- Dì út! Chao ôi, còn đâu nhan sắc mặn mà. Chao ôi! Còn đâu phấn sáp lụa là điểm trang. Bây giờ chị em hãy nhìn cặp giò kia, hãy nhìn xem hai chân kia? Có phải cô ả thật là đẹp lộng lẫy chăng?
Sau khi buông lời chế giễu mỉa mai cô bạn cũ, ba nàng Thiên hậu đồng bỏ ra về. Đức Đế Thích trở lại hỏi con cò Sujātā:
- Nàng có gặp được bạn cũ rồi chớ?
- Thưa có rồi, họ chế giễu em rồi kéo nhau đi mất. Xin chàng hãy đưa em đi viếng cảnh thiên.
Đế Thích nhận lời đưa cò Sujātā đi viếng khắp các thắng cảnh trên Thiên cung, xong rồi đưa nàng trở lại nơi cũ của nàng và hỏi rằng:
- Nàng đã thấy cơ đồ sự nghiệp của ba nàng kia chưa?
- Tâu Thiên vương, thiếp đã thấy rồi.
- Vậy nàng nên tinh cần tu tập để được về nơi ấy.
- Thưa Thiên vương! Thần thiếp phải làm sao để tu tập?
- Nàng hãy ráng vâng giữ làm theo những huấn từ của ta.
- Tâu Thiên vương, thần thiếp nguyện sẽ tuân theo lời dạy.
Khi ấy, Đức Thiên vương Đế Thích truyền ngũ giới cho con cò mái Sujātā, căn dặn nàng phải ráng chuyên cần gìn giữ rồi từ giã nàng.
Từ đó trở đi, con cò mái chỉ ăn ròng những tôm cá đã chết, để khỏi phạm giới sát sanh.
Cách vài hôm sau, để thử lòng con cò Đức Đế Thích hóa thành con cá măng nằm ngửa trên bãi cát. Giống như đã chết, con cò mái thấy, ngỡ là cá chết nó lấy mỏ gấp lên để ăn, không ngờ khi nó sắp nuốt thì thấy con cá ve vẩy đuôi. Con cò nói:
- Cá còn sống.
Rồi nó nhả ra, thả cá xuống ao nước.
Mấy hôm sau nữa, Đức Đế Thích lại thử con cò lần nữa, cũng y như thế, khi con cò gắp cá thấy còn ve vẩy cái kỳ, nó lại thả ra và nói: “Cá còn sống”.
Sau khi thử thách ba phen như thế. Đế Thích hiện nguyên hình Thiên vương, khen con cò mái rằng:
- Nàng giữ giới thật trong sạch, ta đã ba phen xuống thử nàng, nàng đã kiên trì giữ giới cả ba. Nếu nàng cứ trì giới như thế mãi thì không bao lâu nàng sẽ siêu sanh về cõi của ta.
Nói rồi Thiên Vương biến mất.
Từ đó trở đi, con cò mái nhất định : “Có cá chết thì ta dùng, không có thời thôi”. Cách mấy ngày sau nó phải bị chết đói. Do phước giữ năm giới trong sạch, nó được tái sanh làm con gái ông chủ lò gốm trong thành Bārāṇasī.
Khi cô gái đến tuổi cập kê, Đức Đế Thích chợt nhớ đến con cò, tự hỏi: “Nàng đã tái sanh về đâu nhỉ ?”. Khi quan sát tìm kiếm, thấy được hậu thân con cò mái là cô gái lứa. Đức Đế Thích nhủ thầm: “Bây giờ, ta nên xuống nơi đó”, Ngài hóa ra một cỗ xe tay nhỏ, chất đầy bảy loại báu vật, hình dáng như những quả thanh qua (dưa chuột), đi vào trong thành Bārāṇasī:
- Ai dùng thanh qua chăng?
Vừa đi vừa cất tiếng rao lanh lảnh, Đức Đế Thích noi theo lộ chính của thành phố, rảo qua các phố thị. Nhiều người đem đậu xanh, đậu đỏ, ngũ cốc đến đổi chác, Đức Đế Thích đều từ chối, nói rằng:
- Tôi không bán buôn hay đổi chác chi hết.
- Vậy thì ông cho hay sao?
- Tôi chỉ cho không những nữ nhân nào giữ giới.
- Trong những chị em đây, không một ai biết ngũ giới là gì cả, làm sao mà giữ giới cho được.
- Tôi chỉ cho đến người nào có giữ giới mà thôi.
- Ông ạ! Ở đây có cô gái ông chủ lò gốm thường ngày tự xưng là có giữ giới. Vậy ông nên đến cho cô ấy đi.
Thiếu nữ nghe tin đồn, cũng tìm đến cỗ xe của Đức Đế Thích:
- Ông ơi! Ông hãy cho tôi xin những trái thanh qua của ông.
- Nàng là ai?
- Tôi là người không bao giờ dứt lìa ngũ giới.
Nghe vậy, Đức Đế Thích bảo:
- Thế thì nàng hãy đưa ta về cho biết nhà đi.
Đức Đế Thích đẩy cỗ xe đi theo thiếu nữ về tận nhà cô, cho cô trọn xe báu vật dưa xanh của cõi trời, rồi hiện nguyên hình cho cô biết và dặn rằng: “Nàng hãy dùng châu báu này để nuôi mạng sống một đời nàng. Hãy ráng gìn giữ giới đừng cho đứt”.
Nói rồi, Thiên vương từ giã ra đi. Thiếu nữ y theo lời dạy, giữ giới cho tới mãn đời. Sau khi thác thiếu nữ được sanh lên làm Công chúa, con vua cõi Asura Thiên. Nhờ cả hai kiếp đều giữ giới trong sạch, nên Công chúa Asura có dung nhan tuyệt đẹp, màu da như vàng ròng, đầy vẻ đẹp yêu kiều diễm lệ, thanh quí vô song.
Các vương tôn, công tử Asura đi đến cầu hôn, đều bị Asura vương là đức Vepacitti cự tuyệt, bảo rằng:
- Các khanh không xứng đáng với con gái trẫm.
Về sau, đức vua Vepacitti cho phép Công chúa gieo cầu để tự mình kén chọn phò mã.
Đức vua tập hợp thần dân cùng tướng sĩ Asura trước hoàng lâu, trao cho Công chúa một vòng hoa và phán:
- Con hãy gieo cầu kén chọn phò mã xứng ý với con đi.
Ngay lúc ấy, Đức Đế Thích quan sát tìm xem nàng Sujātā thọ sanh vào cõi nào. Biết được việc nầy. Thiên vương nói:
- Bây giờ, trẫm xuống đó rước nàng về đây.
Đức Đế Thích bèn hóa thành một ông lão Asura, xuống đứng sau đám quân sĩ đang dự hội giao cầu.
Công chúa đang ngồi trên lầu vàng, nhìn khắp mọi nơi, nhưng không lưu ý đến ai cả. Nhưng khi vừa trông thấy lão già Asura, thì đột nhiên tình ái khởi phát, sóng tình lai láng tràn ngập tâm tư của nàng trinh nữ đang độ xuân thì, do nơi tiền kiếp của đôi bạn đã từng chung chăn chung gối.
“Người đó là ý trung nhân của ta”, nghĩ rồi Công chúa nhắm ngay ông lão mà ném chiếc giao cầu xuống.
Khắp cả hội trường xôn xao, ai cũng nói:
- Quốc vương tuyên bố là không ai xứng đang với
Công chúa. Bây giờ cuộc gieo cầu kén phò mã, lại chọn được ông cụ già tuổi đáng cha của Công chúa vậy.
Đức Đế Thích nắm tay Công chúa, miệng hét lớn rằng: “Ta là vua trời Đế Thích đây!”. Đoạn Thiên vương dắt vợ đằng vân bay đi. Binh lính Asura hô chuyền nhau: “Chúng ta đã mắc mưu lão già Đế Thích”, rồi họ ráp nhau đuổi theo hai người. Mātali vị trời đánh xe hộ giá, điều khiển chiếc nhạc thinh xa (Vejayantarathaṃ) chạy đến rước Đế Thích, Đức Đế Thích bèn ngự lên Thiên xa trực chỉ về Thiên thành Đạo Lợi. Khi chiếc xe vượt qua đám rừng (Simbali) (Ti Thọ), những con Kim Sí Điểu con, nghe tiếng xe réo thì giựt mình, sợ Thiên xa cán chết, nên la ó inh ỏi. Đức Đế Thích phán hỏi Mātali: “Lũ nào la om sòm như thế?”.
- Tâu Thiên vương, lũ Kim Sí Điểu con la ó như thế.
- Tại sao vậy?
- Chúng nó nghe tiếng xe nghiến rần rộ nên sợ chết mà la đó.
- Vì một mình trẫm mà bao nhiêu kẻ bị xe cán chết quá nhanh, thôi đừng sát hại nữa. Khanh hãy cho xe quay lại đi.
Vị trời ngự giá ra roi lên, điều khiển ngàn con ngựa cho quay xe trở lại. Thấy vậy, quân binh Asura thông báo cho nhau “Lão già Đế Thích thua ta đang bỏ chạy, chợt quay đầu lại, hẳn là có Thiên binh tiếp viện ở phía sau”.
Thế là, họ thối lui quay đầu chạy trở về thành Asura, cho đóng chặt các cửa thành lại không dám cất đầu ngó lên.
Đức Đế Thích đưa nàng Sujātā (Công chúa Asura) về Thiên thành, phong cho nàng chức Thiên hậu, cầm đầu hai mươi lăm triệu Thiên nữ. Tân Thiên Hậu tâu xin với Đức Đế Thích rằng:
- Tâu đại vương! Nơi Thiên cung nầy thần thiếp không có cha mẹ, anh chị em chi cả. Nếu đại vương ngự đi bất cứ nơi nào, xin cho thần thiếp được theo một bên hầu hạ đại vương.
Đức Đế Thích chuẩn tấu rằng: “Lành thay!”.
Từ đó về sau, chư Thiên Asura đóng quân ở hai thành Cittapātali (Mỹ Hoa) và Pupphita (Khai Hoa). Cứ mỗi mùa thiên trượng của vua họ (Dibbapāricchattaka) trổ hoa, thì họ lại dấy loạn, đem binh chống cự lại với Thiên triều, quyết định tái chiếm cung trời Đao Lợi.
Đức Đế Thích muốn ngừa hậu hoạn bèn sắp đặt cho những Long Vương án ngữ canh phòng dưới đáy biển. Từng kế đó thì giao cho những Kim Sí Điểu. Lên từng nữa thì có Cưu Bàn Trà (Kumbhaṇḍa), từng kế tiếp do các Dạ xoa trấn giữ và lớp cuối cùng là Tứ Đại Thiên Vương. Trên Thiên cung, ở mấy cổng thành đều có tượng Thiên vương tay cầm Kim Cang trượng (Vajirahattha). Binh sĩ Asura dù cho có thắng trận vượt qua vòng thành của các Long Vương và mấy vòng thành kế, khi thấy dáng pho tượng của đức Thiên Vương từ xa, chúng ngỡ là Đức Đế Thích đứng trấn nơi đó thì tháo lui chạy trở lại.
- Nầy Mahāli! Thanh niên Magha đã chuyên cần hành pháp như thế. Và người chuyên cần như thế mới đạt đến mức quyền uy như thế, một mình ngự trên hai Thiên giới. Là người chuyên cần, thì tất cả chư Thiên cho đến chư Phật đều tán dương, ca tụng người ấy. Vì quả như thế, mới có thể chứng đạt những pháp siêu thế quý báu cao thượng do nương theo hạnh nguyện chuyên cần vậy.
Kết luận xong, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Appamādena maghavā,
Devānaṃ seṭṭhataṃ gato;
Appamādaṃ pasaṃsanti,
Pamādo garahito sadāti”
“Ma già ngự cõi chư Thiên,
Cũng nhờ giữ hạnh cần chuyên vững bền.
Chuyên cần Phật, Thánh đều khen,
Luôn luôn giải đãi ươn hèn bị chê…”
CHÚ GIẢI:
Trong bài kệ, Phạn ngữ Appamāda nghĩa là: Do sự chuyên cần, tức là sự siêng năng cần cù, quét dọn đất đai, kiến tạo phòng ốc, làm việc phước thiện trong làng Acalagāma vậy.
Maghavā, đức Ma Già được tôn xưng như thế, sau khi từ cõi nhân gian là thanh niên Magha mà lên làm Chúa chư Thiên, thống trị cả hai Thiên cảnh.
Pasaṃsanti (ca tụng, ngợi khen) những bậc trí tuệ nhất là chư Phật hằng tán dương, đề cao, khen ngợi hạnh chuyên cần, là bởi vì sao? Là bởi vì nhờ nó mà chứng đạt tất cả các pháp siêu thế quí báu cao thượng.
Pamādo garahito sadā: Người buông lung, phóng dật dễ duôi, giải đãi, thì thường bị các bậc Thánh ấy rầy la quở trách, là bởi vì sao? Là bởi nết buông lung là nguồn cội của tất cả nết hư tật xấu.
Quả thật các tội lỗi mà người đời gây tạo, các ác đạo mà họ bị đe dọa đều do căn bản là buông lung cả thảy.
Khi bài kệ chấm dứt vương tử Mahāli dòng Licchavī chứng đạt Dự Lưu quả. Đồ chúng câu hội thính pháp, nhiều người cũng đạt Thánh quả, nhất là Dự lưu.
Ngọc Hoàng kiếp trước cũng như ta,
Tích đức tu nhân mới được là!
Bố thí, không lo người tốt xấu,
Trang hoàng, chẳng ngại chỗ gần xa.
Đường trời đắp thấu nhờ kiên nhẫn,
Nghĩa bạn gây nên bởi cộng hòa.
Hiếu, Để, Từ, Chân đều đủ cả,
Muôn đời ngự trị cõi Băm Ba.
DỨT TÍCH ĐỨC SAKKA
Maghavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Appamādena maghavāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā vesāliyaṃ upanissāya kūṭāgārasālāyaṃ viharanto sakkaṃ devarājānaṃ ārabbha kathesi.
Vesāliyañhi mahāli nāma licchavī vasati, so tathāgatassa sakkapañhasuttantadesanaṃ (dī. ni. 2.344 ādayo) sutvā “sammāsambuddho sakkasampattiṃ mahatiṃ katvā kathesi, ‘disvā nu kho kathesi, udāhu adisvā. Jānāti nu kho sakkaṃ, udāhu no’ti pucchissāmi na”nti cintesi. Atha kho, mahāli, licchavī yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho, mahāli, licchavī bhagavantaṃ etadavoca – “diṭṭho kho, bhante, bhagavatā sakko devānamindo”ti? “Diṭṭho kho me, mahāli, sakko devānamindo”ti. “So hi nuna, bhante, sakkapatirūpako bhavissati. Duddaso hi, bhante, sakko devānamindo”ti. “Sakkañca khvāhaṃ, mahāli, pajānāmi sakkakaraṇe ca dhamme, yesaṃ dhammānaṃ samādinnattā sakko sakkattaṃ ajjhagā, tañca pajānāmi”.
Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno magho nāma māṇavo ahosi, tasmā “maghavā”ti vuccati.
Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno pure dānaṃ adāsi, tasmā “purindado”ti vuccati.
Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno sakkaccaṃ dānaṃ adāsi, tasmā “sakko”ti vuccati.
Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno āvasathaṃ adāsi, tasmā “vāsavo”ti vuccati.
Sakko, mahāli, devānamindo sahassampi atthaṃ muhuttena cinteti, tasmā “sahassakkho”ti vuccati.
Sakkassa, mahāli, devānamindassa sujā nāma asurakaññā, pajāpati, tasmā “sujampatī”ti vuccati.
Sakko, mahāli, devānamindo devānaṃ tāvatiṃsānaṃ issariyādhipaccaṃ rajjaṃ kāreti, tasmā “devānamindo”ti vuccati.
Sakkassa, mahāli, devānamindassa pubbe manussabhūtassa satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṃ, yesaṃ samādinnattā sakko sakkattaṃ ajjhagā. Katamāni satta vatapadāni? Yāvajīvaṃ mātāpettibharo assaṃ, yāvajīvaṃ kule jeṭṭhāpacāyī assaṃ, yāvajīvaṃ saṇhavāco assaṃ, yāvajīvaṃ apisuṇavāco assaṃ, yāvajīvaṃ vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ ajjhāvaseyyaṃ, muttacāgo payatapāṇi vosaggarato yācayogo dānasaṃvibhāgarato assaṃ. Yāvajīvaṃ saccavāco assaṃ, yāvajīvaṃ akkodhano assaṃ, “sacepi me kodho uppajjeyya, khippameva na paṭivineyya”nti. Sakkassa, mahāli, devānamindassa pubbe manussabhūtassa imāni satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṃ, yesaṃ samādinnattā sakko sakkattaṃ ajjhagāti.
“Mātāpettibharaṃ jantuṃ, kule jeṭṭhāpacāyinaṃ;
Saṇhaṃ sakhilasambhāsaṃ, pesuṇeyyappahāyinaṃ.
“Maccheravinaye yuttaṃ, saccaṃ kodhābhibhuṃ naraṃ;
Taṃ ve devā tāvatiṃsā, āhu sappuriso itī”ti. (saṃ. ni. 1.257) –
Idaṃ, mahāli, sakkena maghamāṇavakāle katakammanti vatvā puna tena “kathaṃ, bhante, maghamāṇavo paṭipajjī”ti? Tassa paṭipattiṃ vitthārato sotukāmena puṭṭho “tena hi, mahāli, suṇāhī”ti vatvā atītaṃ āhari –
Atīte magadharaṭṭhe macalagāme magho nāma māṇavo gāmakammakaraṇaṭṭhānaṃ gantvā attano ṭhitaṭṭhānaṃ pādantena paṃsuṃ viyūhitvā ramaṇīyaṃ katvā aṭṭhāsi. Aparo taṃ bāhunā paharitvā tato apanetvā sayaṃ tattha aṭṭhāsi. So tassa akujjhitvāva aññaṃ ṭhānaṃ ramaṇīyaṃ katvā ṭhito. Tatopi naṃ añño āgantvā bāhunā paharitvā apanetvā sayaṃ aṭṭhāsi. So tassapi akujjhitvāva aññaṃ ṭhānaṃ ramaṇīyaṃ katvā ṭhito, iti taṃ gehato nikkhantā nikkhantā purisā bāhunā paharitvā ṭhitaṭhitaṭṭhānato apanesuṃ. So “sabbepete maṃ nissāya sukhitā jātā, iminā kammena mayhaṃ sukhadāyakena puññakammena bhavitabba”nti cintetvā, punadivase kudālaṃ ādāya khalamaṇḍalamattaṃ ṭhānaṃ ramaṇīyaṃ akāsi. Sabbe gantvā tattheva aṭṭhaṃsu. Atha nesaṃ sītasamaye aggiṃ katvā adāsi, gimhakāle udakaṃ. Tato “ramaṇīyaṃ ṭhānaṃ nāma sabbesaṃ piyaṃ, kassaci appiyaṃ nāma natthi, ito paṭṭhāya mayā maggaṃ samaṃ karontena vicarituṃ vaṭṭatī”ti cintetvā, pātova nikkhamitvā, maggaṃ samaṃ karonto chinditvā, haritabbayuttakā rukkhasākhā haranto vicarati. Atha naṃ aparo disvā āha – “samma, kiṃ karosī”ti? “Mayhaṃ saggagāminaṃ maggaṃ karomi, sammā”ti. “Tena hi ahampi te sahāyo homī”ti. “Hohi, samma, saggo nāma bahūnampi manāpo sukhabahulo”ti. Tato paṭṭhāya dve janā ahesuṃ. Te disvā tatheva pucchitvā ca sutvā ca aparopi tesaṃ sahāyo jāto, evaṃ aparopi aparopīti sabbepi tettiṃsa janā jātā. Te sabbepi kudālādihatthā maggaṃ samaṃ karontā ekayojanadviyojanamattaṭṭhānaṃ gacchanti.
Te disvā gāmabhojako cintesi – “ime manussā ayoge yuttā, sace ime araññato macchamaṃsādīni vā āhareyyuṃ. Suraṃ vā katvā piveyyuṃ, aññaṃ vā tādisaṃ kammaṃ kareyyuṃ, ahampi kiñci kiñci labheyya”nti. Atha ne pakkosāpetvā pucchi – “kiṃ karontā vicarathā”ti? “Saggamaggaṃ, sāmī”ti. “Gharāvāsaṃ vasantehi nāma evaṃ kātuṃ na vaṭṭati, araññato macchamaṃsādīni āharituṃ, suraṃ katvā pātuṃ, nānappakāre ca kammante kātuṃ vaṭṭatī”ti. Te tassa vacanaṃ paṭikkhipiṃsu, evaṃ punappunaṃ vuccamānāpi paṭikkhipiṃsuyeva. So kujjhitvā “nāsessāmi ne”ti rañño santikaṃ gantvā, “core te, deva, vaggabandhanena vicarante passāmī”ti vatvā, “gaccha, te gahetvā ānehī”ti vutte tathā katvā sabbe te bandhitvā ānetvā rañño dassesi. Rājā avīmaṃsitvāva “hatthinā maddāpethā”ti āṇāpesi. Magho sesānaṃ ovādamadāsi – “sammā, ṭhapetvā mettaṃ añño amhākaṃ avassayo natthi, tumhe katthaci kopaṃ akatvā raññe ca gāmabhojake ca maddanahatthimhi ca attani ca mettacittena samacittāva hothā”ti. Te tathā kariṃsu. Atha nesaṃ mettānubhāvena hatthī uppasaṅkamitumpi na visahi. Rājā tamatthaṃ sutvā bahū manusse disvā maddituṃ na visahissati? “Gacchatha, ne kilañjena paṭicchādetvā maddāpethā”ti āha. Te kilañjena paṭicchādetvā maddituṃ pesiyamānopi hatthī dūratova paṭikkami.
Rājā taṃ pavattiṃ sutvā “kāraṇenettha bhavitabba”nti te pakkosāpetvā pucchi – “tātā, maṃ nissāya tumhe kiṃ na labhathā”ti? “Kiṃ nāmetaṃ, devā”ti? “Tumhe kira vaggabandhanena corā hutvā araññe vicarathā”ti? “Ko evamāha, devā”ti? “Gāmabhojako, tātā”ti. “Na mayaṃ, deva, corā, mayaṃ pana attano saggamaggaṃ sodhentā idañcidañca karoma, gāmabhojako amhe akusalakiriyāya niyojetvā attano vacanaṃ akaronte nāsetukāmo kujjhitvā evamāhā”ti. Atha rājā tesaṃ kathaṃ sutvā somanassappatto hutvā, “tātā, ayaṃ tiracchāno tumhākaṃ guṇe jānāti, ahaṃ manussabhūto jānituṃ nāsakkhiṃ, khamatha me”ti. Evañca pana vatvā saputtadāraṃ gāmabhojakaṃ tesaṃ dāsaṃ, hatthiṃ ārohaniyaṃ, tañca gāmaṃ yathāsukhaṃ paribhogaṃ katvā adāsi. Te “idheva no katapuññassānisaṃso diṭṭho”ti bhiyyosomattāya pasannamānasā hutvā taṃ hatthiṃ vārena vārena abhiruyha gacchantā mantayiṃsu “idāni amhehi atirekataraṃ puññaṃ kātabbaṃ, kiṃ karoma? Catumahāpathe thāvaraṃ katvā mahājanassa vissamanasālaṃ karissāmā”ti. Te vaḍḍhakiṃ pakkosāpetvā sālaṃ paṭṭhapesuṃ. Mātugāmesu pana vigatacchandatāya tassā sālāya mātugāmānaṃ pattiṃ nādaṃsu.
Maghassa pana gehe nandā, cittā, sudhammā, sujāti catasso itthiyo honti. Tāsu sudhammā vaḍḍhakinā saddhiṃ ekato hutvā, “bhātika, imissā sālāya maṃ jeṭṭhikaṃ karohī”ti vatvā lañjaṃ adāsi. So “sādhū”ti sampaṭicchitvā paṭhamameva kaṇṇikatthāya rukkhaṃ sukkhāpetvā tacchetvā vijjhitvā kaṇṇikaṃ niṭṭhāpetvā, “sudhammā nāma ayaṃ sālā”ti akkharāni chinditvā vatthena paliveṭhetvā ṭhapesi. Atha ne vaḍḍhakī sālaṃ niṭṭhāpetvā kaṇṇikāropanadivase “aho, ayyā, ekaṃ karaṇīyaṃ na sarimhā”ti āha. “Kiṃ nāma, bho”ti? “Kaṇṇika”nti. “Hotu taṃ āharissāmā”ti. “Idāni chinnarukkhena kātuṃ na sakkā, pubbeyeva taṃ chinditvā tacchetvā vijjhitvā ṭhapitakaṇṇikā laddhuṃ vaṭṭatī”ti. “Idāni kiṃ kātabba”nti? “Sace kassaci gehe niṭṭhāpetvā ṭhapitā vikkāyikakaṇṇikā atthi, sā pariyesitabbā”ti. Te pariyesantā sudhammāya gehe disvā sahassaṃ datvāpi mūlena na labhiṃsu. “Sace maṃ sālāya pattiṃ karotha, dassāmī”ti vutte pana “mayaṃ mātugāmānaṃ pattiṃ na dammā”ti āhaṃsu.
Atha ne vaḍḍhakī āha – “ayyā, tumhe kiṃ kathetha, ṭhapetvā brahmalokaṃ aññaṃ mātugāmarahitaṭṭhānaṃ nāma natthi, gaṇhatha kaṇṇikaṃ. Evaṃ sante amhākaṃ kammaṃ niṭṭhaṃ gamissatī”ti. Te “sādhū”ti kaṇṇikaṃ gahetvā sālaṃ niṭṭhāpetvā tidhā vibhajiṃsu. Ekasmiṃ koṭṭhāse issarānaṃ vasanaṭṭhānaṃ kariṃsu, ekasmiṃ duggatānaṃ, ekasmiṃ gilānānaṃ. Tettiṃsa janā tettiṃsa phalakāni paññapetvā hatthissa saññaṃ adaṃsu – “āgantuko āgantvā yassa atthataphalake nisīdati, taṃ gahetvā phalakasāmikasseva gehe patiṭṭhapehi, tassa pādaparikammapiṭṭhiparikammapānīyakhādanīyabhojanīyasayanāni sabbāni phalakasāmikasseva bhāro bhavissatī”ti. Hatthī āgatāgataṃ gahetvā phalakasāmikasseva gharaṃ neti. So tassa taṃ divasaṃ kattabbaṃ karoti. Magho sālāya avidūre koviḷārarukkhaṃ ropetvā tassa mūle pāsāṇaphalakaṃ atthari. Sālaṃ paviṭṭhapaviṭṭhā janā kaṇṇikaṃ oloketvā akkharāni vācetvā, “sudhammā nāmesā sālā”ti vadanti. Tettiṃsajanānaṃ nāmaṃ na paññāyati. Nandā cintesi – “ime sālaṃ karontā amhe apattikā kariṃsu, sudhammā pana attano byattatāya kaṇṇikaṃ katvā pattikā jātā, mayāpi kiñci kātuṃ vaṭṭati, kiṃ nu kho karissāmī”ti? Athassā etadahosi – “sālaṃ āgatāgatānaṃ pānīyañceva nhānodakañca laddhuṃ vaṭṭati, pokkharaṇiṃ khaṇāpessāmī”ti. Sā pokkharaṇiṃ kāresi. Cittā cintesi – “sudhammāya kaṇṇikā dinnā, nandāya pokkharaṇī kāritā, mayāpi kiñci kātuṃ vaṭṭati, kiṃ nu kho karissāmī”ti? Athassā etadahosi – “sālaṃ āgatāgatehi pānīyaṃ pivitvā nhatvā gamanakālepi mālaṃ pilandhitvā gantuṃ vaṭṭati, pupphārāmaṃ kārāpessāmī”ti. Sā ramaṇīyaṃ pupphārāmaṃ kāresi. Yebhuyyena tasmiṃ ārāme “asuko nāma pupphūpagaphalūpagarukkho natthī”ti nāhosi.
Sujā pana “ahaṃ maghassa mātuladhītā ceva pādaparicārikā ca, etena kataṃ kammaṃ mayhameva, mayā kataṃ etassevā”ti cintetvā, kiñci akatvā attabhāvameva maṇḍayamānā kālaṃ vītināmesi. Maghopi mātāpituupaṭṭhānaṃ kule jeṭṭhāpacāyanakammaṃ saccavācaṃ apharusavācaṃ api, suṇavācaṃ maccheravinayaṃ akkodhananti imāni satta vatapadāni pūretvā –
“Mātāpettibharaṃ jantuṃ, kule jeṭṭhāpacāyinaṃ;
Saṇhaṃ sakhilasambhāsaṃ, pesuṇeyyappahāyinaṃ.
“Maccheravinaye yuttaṃ, saccaṃ kodhābhibhuṃ naraṃ;
Taṃ ve devā tāvatiṃsā, āhu ‘sappuriso’itī”ti. (saṃ. ni. 1.257) –
Evaṃ pasaṃsiyabhāvaṃ āpajjitvā jīvitapariyosāne tāvatiṃsabhavane sakko devarājā hutvā nibbatti, tepissa sahāyakā tattheva nibbattiṃsu, vaḍḍhakī vissakammadevaputto hutvā nibbatti. Tadā tāvatiṃsabhavane asurā vasanti. Te “abhinavā devaputtā nibbattā”ti dibbapānaṃ sajjayiṃsu. Sakko attano parisāya kassaci apivanatthāya saññamadāsi. Asurā dibbapānaṃ pivitvā majjiṃsu. Sakko “kiṃ me imehi sādhāraṇena rajjenā”ti attano parisāya saññaṃ datvā te pādesu gāhāpetvā mahāsamudde khipāpesi. Te avaṃsirā samudde patiṃsu. Atha nesaṃ puññānubhāvena sineruno heṭṭhimatale asuravimānaṃ nāma nibbatti, cittapāṭali nāma nibbatti.
Devāsurasaṅgāme pana asuresu parājitesu dasayojanasahassaṃ tāvatiṃsadevanagaraṃ nāma nibbatti. Tassa pana nagarassa pācīnapacchimadvārānaṃ antarā dasayojanasahassaṃ hoti, tathā dakkhiṇuttaradvārānaṃ. Taṃ kho pana nagaraṃ dvārasahassayuttaṃ ahosi ārāmapokkharaṇipaṭimaṇḍitaṃ. Tassa majjhe sālāya nissandena tiyojanasatubbedhehi dhajehi paṭimaṇḍito sattaratanamayo sattayojanasatubbedho vejayanto nāma pāsādo uggañchi. Suvaṇṇayaṭṭhīsu maṇidhajā ahesuṃ, maṇiyaṭṭhīsu suvaṇṇadhajā; pavāḷayaṭṭhīsu muttadhajā, muttayaṭṭhīsu pavāḷadhajā; sattaratanamayāsu yaṭṭhīsu sattaratanadhajā, majjhe ṭhito dhajo tiyojanasatubbedho ahosi. Iti sālāya nissandena yojanasahassubbedho pāsādo sattaratanamayova hutvā nibbatti, koviḷārarukkhassa nissandena samantā tiyojanasataparimaṇḍalo pāricchattako nibbatti, pāsāṇaphalakassa nissandena pāricchattakamūle dīghato saṭṭhiyojanā puthulato paṇṇāsayojanā bahalato pañcadasayojanā jayasumanarattakambalavaṇṇā paṇḍukambalasilā nibbatti. Tattha nisinnakāle upaḍḍhakāyo pavisati, uṭṭhitakāle ūnaṃ paripūrati.
Hatthī pana erāvaṇo nāma devaputto hutvā nibbatti. Devalokasmiñhi tiracchānagatā na honti. Tasmā so uyyānakīḷāya nikkhamanakāle attabhāvaṃ vijahitvā diyaḍḍhayojanasatiko erāvaṇo nāma hatthī ahosi. So tettiṃsajanānaṃ atthāya tettiṃsa kumbhe māpesi āvaṭṭena tigāvutaaḍḍhayojanappamāṇe, sabbesaṃ majjhe sakkassa atthāya sudassanaṃ nāma tiṃsayojanikaṃ kumbhaṃ māpesi. Tassa upari dvādasayojaniko ratanamaṇḍapo hoti. Tattha antarantarā sattaratanamayā yojanubbedhā dhajā uṭṭhahanti. Pariyante kiṅkiṇikajālaṃ olambati. Yassa mandavāteritassa pañcaṅgikatūriyasaddasaṃmisso dibbagītasaddo viya ravo niccharati. Maṇḍapamajjhe sakkassatthāya yojaniko maṇipallaṅko paññatto hoti, tattha sakko nisīdi. Tettiṃsa devaputtā attano kumbhe ratanapallaṅke nisīdiṃsu. Tettiṃsāya kumbhānaṃ ekekasmiṃ kumbhe satta satta dante māpesi. Tesu ekeko paṇṇāsayojanāyāmo, ekekasmiñcettha dante satta satta pokkharaṇiyo honti, ekekāya pokkharaṇiyā satta satta paduminīgacchāni, ekekasmiṃ gacche satta satta pupphāni honti, ekekasmiṃ pupphe satta satta pattāni, ekekasmiṃ patte satta satta devadhītaro naccanti. Evaṃ samantā paṇṇāsayojanaṭhānesu hatthidantesuyeva naṭasamajjā honti. Evaṃ mahantaṃ yasaṃ anubhavanto sakko devarājā vicarati.
Sudhammāpi kālaṃ katvā gantvā tattheva nibbatti. Tassā sudhammā nāma nava yojanasatikā devasabhā nibbatti. Tato ramaṇīyataraṃ kira aññaṃ ṭhānaṃ nāma natthi, māsassa aṭṭha divase dhammassavanaṃ tattheva hoti. Yāvajjatanā aññataraṃ ramaṇīyaṃ ṭhānaṃ disvā, “sudhammā devasabhā viyā”ti vadanti. Nandāpi kālaṃ katvā gantvā tattheva nibbatti, tassā pañcayojanasatikā nandā nāma pokkharaṇī nibbatti. Cittāpi kālaṃ katvā gantvā tattheva nibbatti, tassāpi pañcayojanasatikaṃ cittalatāvanaṃ nāma nibbatti, tattha uppannapubbanimitte devaputte netvā mohayamānā vicaranti. Sujā pana kālaṃ katvā ekissā girikandarāya ekā bakasakuṇikā hutvā nibbatti. Sakko attano paricārikā olokento “sudhammā idheva nibbattā, tathā nandā ca cittā ca, sujā nu kho kuhiṃ nibbattā”ti cintento taṃ tattha nibbattaṃ disvā, “bālā kiñci puññaṃ akatvā idāni tiracchānayoniyaṃ nibbattā, idāni pana taṃ puññaṃ kāretvā idhānetuṃ vaṭṭatī”ti attabhāvaṃ vijahitvā aññātakavesena tassā santikaṃ gantvā, “kiṃ karontī idha vicarasī”ti pucchi. “Ko pana tvaṃ, sāmī”ti? “Ahaṃ te sāmiko magho”ti. “Kuhiṃ nibbattosi, sāmī”ti? “Ahaṃ tāvatiṃsadevaloke nibbatto”. “Tava sahāyikānaṃ pana nibbattaṭṭhānaṃ jānāsī”ti? “Na jānāmi, sāmī”ti. “Tāpi mameva santike nibbattā, passissasi tā sahāyikā”ti. “Kathāhaṃ tattha gamissāmī”ti? Sakko “ahaṃ taṃ tattha nessāmī”ti vatvā hatthatale ṭhapetvā devalokaṃ netvā nandāya pokkharaṇiyā tīre vissajjetvā itarāsaṃ tissannaṃ ārocesi – “tumhākaṃ sahāyikaṃ sujaṃ passissathā”ti. “Kuhiṃ sā, devā”ti? “Nandāya pokkharaṇiyā tīre ṭhitā”ti āha. Tā tissopi gantvā, “aho ayyāya evarūpaṃ attabhāvamaṇḍanassa phalaṃ, idānissā tuṇḍaṃ passatha, pāde passatha, jaṅghā passatha, sobhati vatassā attabhāvo”ti keḷiṃ katvā pakkamiṃsu.
Puna sakko tassā santikaṃ gantvā, “diṭṭhā te sahāyikā”ti vatvā “diṭṭhā maṃ uppaṇḍetvā gatā, tattheva maṃ nehī”ti vutte taṃ tattheva netvā udake vissajjetvā, “diṭṭhā te tāsaṃ sampattī”ti pucchi. “Diṭṭhā, devā”ti? “Tayāpi tattha nibbattanūpāyaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti. “Kiṃ karomi, devā”ti? “Mayā dinnaṃ ovādaṃ rakkhissasī”ti. “Rakkhissāmi, devā”ti. Athassā pañca sīlāni datvā, “appamattā rakkhāhī”ti vatvā pakkāmi. Sā tato paṭṭhāya sayaṃmatamacchakeyeva pariyesitvā khādati. Sakko katipāhaccayena tassā vīmaṃsanatthāya gantvā, vālukāpiṭṭhe matamacchako viya hutvā uttāno nipajji. Sā taṃ disvā “matamacchako”ti saññāya aggahesi. Maccho gilanakāle naṅguṭṭhaṃ cālesi. Sā “sajīvamacchako”ti udake vissajjesi. So thokaṃ vītināmetvā puna tassā purato uttāno hutvā nipajji. Puna sā “matamacchako”ti saññāya gahetvā gilanakāle agganaṅguṭṭhaṃ cālesi. Taṃ disvā “sajīvamaccho”ti vissajjesi. Evaṃ tikkhattuṃ vīmaṃsitvā “sādhukaṃ sīlaṃ rakkhatī”ti attānaṃ jānāpetvā “ahaṃ tava vīmaṃsanatthāya āgato, sādhukaṃ sīlaṃ rakkhasi, evaṃ rakkhamānā na cirasseva mama santike nibbattissasi, appamattā hohī”ti vatvā pakkāmi.
Sā tato paṭṭhāya pana sayaṃmatamacchaṃ labhati vā, na vā. Alabhamānā katipāhaccayeneva sussitvā kālaṃ katvā tassa sīlassa phalena bārāṇasiyaṃ kumbhakārassa dhītā hutvā nibbatti. Athassā pannarasasoḷasavassuddesikakāle sakko “kuhiṃ nu kho sā nibbattā”ti āvajjento disvā, “idāni mayā tattha gantuṃ vaṭṭatī”ti eḷālukavaṇṇena paññāyamānehi sattahi ratanehi yānakaṃ pūretvā taṃ pājento bārāṇasiṃ pavisitvā, “ammatātā, eḷālukāni gaṇhatha gaṇhathā”ti ugghosento vīthiṃ paṭipajji. Muggamāsādīni gahetvā āgate pana “mūlena na demī”ti vatvā, “kathaṃ desī”ti vutte, “sīlarakkhikāya itthiyā dammī”ti āha. “Sīlaṃ nāma, sāmi, kīdisaṃ, kiṃ kāḷaṃ, udāhu nīlādivaṇṇa”nti? “Tumhe ‘sīlaṃ kīdisa’ntipi na jānātha, kimeva naṃ rakkhissatha, sīlarakkhikāya pana dassāmī”ti. “Sāmi, esā kumbhakārassa dhītā ‘sīlaṃ rakkhāmī’ti vicarati, etissā dehī”ti. Sāpi naṃ “tena hi mayhaṃ dehi, sāmī”ti āha. “Kāsi tva”nti? “Ahaṃ avijahitapañcasīlā”ti. “Tuyhamevetāni mayā ānītānī”ti yānakaṃ pājento tassā gharaṃ gantvā aññehi anāhariyaṃ katvā eḷālukavaṇṇena devadattiyaṃ dhanaṃ datvā attānaṃ jānāpetvā, “idaṃ te jīvitavuttiyā dhanaṃ, pañcasīlāni akhaṇḍādīni katvā rakkhāhī”ti vatvā pakkāmi.
Sāpi tato cavitvā asurabhavane asurajeṭṭhakassa dhītā hutvā sakkassa verighare nibbatti. Dvīsu pana attabhāvesu sīlassa surakkhitattā abhirūpā ahosi suvaṇṇavaṇṇā asādhāraṇāya rūpasiriyā samannāgatā. Vepacittiasurindo āgatāgatānaṃ asurānaṃ “tumhe mama dhītu anucchavikā na hothā”ti taṃ kassaci adatvā, “mama dhītā attanāva attano anucchavikaṃ sāmikaṃ gahessatī”ti asurabalaṃ sannipātāpetvā, “tuyhaṃ anucchavikaṃ sāmikaṃ gaṇhā”ti tassā, hatthe pupphadāmaṃ adāsi. Tasmiṃ khaṇe sakko tassā nibbattaṭṭhānaṃ olokento taṃ pavattiṃ ñatvā, “idāni mayā gantvā taṃ ānetuṃ vaṭṭatī”ti mahallakaasuravaṇṇaṃ nimminitvā gantvā parisapariyante aṭṭhāsi. Sāpi ito cito ca olokentī taṃ diṭṭhamattāva pubbasannivāsavasena uppannena pemena mahogheneva ajjhotthaṭahadayā hutvā, “eso me sāmiko”ti tassa upari pupphadāmaṃ khipi. Asurā “amhākaṃ rājā ettakaṃ kālaṃ dhītu anucchavikaṃ alabhitvā idāni labhi, ayamevassa dhītu pitāmahato mahallako anucchaviko”ti lajjamānā apakkamiṃsu. Sakkopi taṃ hatthe gahetvā “sakkohamasmī”ti naditvā ākāse pakkhandi. Asurā “vañcitamhā jarasakkenā”ti taṃ anubandhiṃsu. Mātali, saṅgāhako vejayantarathaṃ āharitvā antarāmagge aṭṭhāsi. Sakko taṃ tattha āropetvā devanagarābhimukho pāyāsi. Athassa sippalivanaṃ sampattakāle rathasaddaṃ sutvā bhītā garuḷapotakā viraviṃsu. Tesaṃ saddaṃ sutvā sakko mātaliṃ pucchi – “ke ete viravantī”ti? “Garuḷapotakā, devā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Rathasaddaṃ sutvā maraṇabhayenā”ti. “Maṃ ekaṃ nissāya ettako dijo rathavegena vicuṇṇito mā nassi, nivattehi ratha”nti. Sopi sindhavasahassassa daṇḍakasaññaṃ datvā rathaṃ nivattesi. Taṃ disvā asurā “jarasakko asurapurato paṭṭhāya palāyanto idāni rathaṃ nivattesi, addhā tena upatthambho laddho bhavissatī”ti nivattetvā āgamanamaggeneva asurapuraṃ pavisitvā puna sīsaṃ na ukkhipiṃsu.
Sakkopi sujaṃ asurakaññaṃ devanagaraṃ netvā aḍḍhateyyānaṃ accharākoṭīnaṃ jeṭṭhikaṭṭhāne ṭhapesi. Sā sakkaṃ varaṃ yāci – “mahārāja, mama imasmiṃ devaloke mātāpitaro vā bhātikabhaginiyo vā natthi, yattha yattha gacchasi, tattha tattha maṃ gahetvāva gaccheyyāsī”ti. So “sādhū”ti tassā paṭiññaṃ adāsi. Tato paṭṭhāya cittapāṭaliyā pupphitāya asurā “amhākaṃ nibbattaṭṭhāne dibbapāricchattakassa pupphanakālo”ti yuddhatthāya saggaṃ abhiruhanti. Sakko heṭṭhāsamudde nāgānaṃ ārakkhaṃ adāsi, tato supaṇṇānaṃ, tato kumbhaṇḍānaṃ, tato yakkhānaṃ. Tato catunnaṃ mahārājānaṃ. Sabbūpari pana upaddavanivattanatthāya devanagaradvāresu vajirahatthā indapaṭimā ṭhapesi. Asurā nāgādayo jinitvā āgatāpi indapaṭimā dūrato disvā “sakko nikkhanto”ti palāyanti. Evaṃ, mahāli, magho māṇavo appamādapaṭipadaṃ paṭipajji. Evaṃ appamatto panesa evarūpaṃ issariyaṃ patvā dvīsu devalokesu rajjaṃ kāresi. Appamādo nāmesa buddhādīhi pasattho. Appamādañhi nissāya sabbesampi lokiyalokuttarānaṃ visesānaṃ adhigamo hotīti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Appamādena maghavā, devānaṃ seṭṭhataṃ gato;
Appamādaṃ pasaṃsanti, pamādo garahito sadā”ti.
Tattha appamādenāti macalagāme bhūmippadesasodhanaṃ ādiṃ katvā katena appamādena. Maghavāti idāni “maghavā”tipaññāto magho māṇavo dvinnaṃ devalokānaṃ rājabhāvena devānaṃ seṭṭhataṃ gato. Pasaṃsantīti buddhādayo paṇḍitā appamādameva thomenti vaṇṇayanti. Kiṃ kāraṇā? Sabbesaṃ lokiyalokuttarānaṃ visesānaṃ paṭilābhakāraṇattā. Pamādo garahito sadāti pamādo pana tehi ariyehi niccaṃ garahito nindito. Kiṃ kāraṇā? Sabbavipattīnaṃ mūlabhāvato. Manussadobhaggaṃ vā hi apāyuppatti vā sabbā pamādamūlikāyevāti.
Gāthāpariyosāne mahāli licchavī sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattaparisāyapi bahū sotāpannādayo jātāti.
Maghavatthu sattamaṃ.
II. 7. How Magha Became Sakka
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
30. By heedfulness Maghavā attained leadership of the gods;
All men praise heedfulness; heedlessness is ever reprobated.
This religious instruction was given by the Teacher while in residence at a summer-house near Vesali with reference to Sakka king of gods.
7 a. Story of the Present: Mahāli’s question
For a Licchavi prince named Mahāli, who lived at Vesali, hearing the Teacher recite the Suttanta entitled Sakka’s Question, thought to himself, “The Supremely Enlightened has described the great glory of Sakka. Has the Teacher seen Sakka? or has he not seen Sakka? Is the Teacher acquainted with Sakka? or is he not acquainted with Sakka? I will ask him.” So the Licchavi prince Mahāli drew near to where the Exalted One was, and having drawn near, saluted the Exalted One and sat down on one side. And having sat down on one side, the Licchavi prince Mahāli spoke thus to the Exalted One, “Reverend Sir, has the Exalted One seen Sakka king of gods?” “Yes, Mahāli, I have indeed seen Sakka king of gods.” “Reverend Sir, it must certainly have been a counterfeit of Sakka; for, Reverend Sir, it is a difficult matter to see Sakka king of gods.” “Nevertheless, Mahāli, I know Sakka; I know what qualities made him Sakka; I know by the cultivation of what qualities Sakka attained Sakkaship.
“Mahāli, in a previous state of existence Sakka king of gods was a human being, a prince named Magha; therefore is he called Maghavā. Mahāli, in a previous state of existence Sakka king of gods was a human being who in a previous state of existence gave gifts (pure dānaṁ adāsi); therefore is he called Purindada. Mahāli, in a previous state of existence Sakka king of gods was a human being, who gave alms assiduously (sakkaccaṁ); therefore is he called Sakka. Mahāli, in a previous state of existence Sakka king of gods was a human being who gave a dwelling-place (āvasathaṁ); therefore is he called Vāsava. Mahāli in a previous state of existence Sakka king of gods was a human being who could think of as many as a thousand things (sahassaṁ atthaṁ) in an instant; therefore is he called Sahassakkha. Mahāli, Sakka king of gods has an Asura maiden named Sujātā to wife; therefore is he called Sujampati. Mahāli, Sakka king of gods bears sway as lord and master over the Gods of the Thirty-three; therefore is he called King of Gods. Mahāli, Sakka king of gods in a previous state of existence as a human being took upon himself and fulfilled seven vows. Because he took upon himself and fulfilled these seven vows, Sakka attained Sakkaship.
“Now what were the seven? ‘So long as I live, may I be the support of my mother and father. So long as I live, may I honor my elders. So long as I live, may I speak gentle words. So long as I live, may I never give way to backbiting. So long as I live, may I live the life of a householder with heart free from taint of avarice, generous in renunciation of what is mine, with open hand, delighting in liberality, attentive to petitions, delighting in the distribution of alms. So long as I live, may I speak the truth. So long as I live, may I be free from anger. Should anger spring up within me, may I quickly suppress it.’ Mahāli, Sakka king of gods in a previous state of existence took upon himself and fulfilled seven vows. Because he took upon himself and fulfilled these seven vows, Sakka attained Sakkaship.”
If a man support his mother and father, if he honor his elders in the household,
If he be gentle and friendly in conversation, if he avoid backbiting,
If he steadfastly put away avarice, if he be truthful, if he suppress anger,
Such a man the Gods of the Thirty-three call a good man.
When the Teacher said, “This, Mahāli, was what Sakka did in his previous existence as Prince Magha,” Mahāli, desiring to hear the whole story of his conduct, asked the Teacher, “Reverend Sir, how did Prince Magha conduct himself?” “Well then,” said the Teacher, “listen.” So saying, he related the following
7 b. Story of the Past: How Magha became Sakka
In times long past a prince named Magha lived in the village of Macala in the kingdom of Magadha. One day he went to the place where the business of the village was carried on, removed with his foot the dust from the place where he stood, and having made a comfortable place for himself, stood there. Thereupon another struck him with his arm, pushed him aside, and took his place. But instead of becoming angry at the man, he made another comfortable place for himself and stood there. Thereupon another struck him with his arm, pushed him away, and took his place. But neither did he allow himself to become angry at this man; he merely made another comfortable place for himself and stood there. In like manner one man after another came out of his house, struck him with his arm, and pushed him away from the place which he had cleared for himself.
The prince thought to himself, “All these men appear to be pleased. Since this work of mine conduces to the happiness of men, it must be a meritorious work.” So on the following day he took a spade and cleared a space as big as a threshing-floor, whereupon all the men came and stood there. In cold weather he built a fire to warm them, so that the place became a favorite resort for all. Then he thought to himself, “It behooves me to take upon myself the task of making the road smooth and even.” So early in the morning he started out to make the road smooth and even, cutting down and removing all the branches of trees that needed to be removed. Thus did he spend his time.
Another man saw him and said to him, “Master, what are you doing?” He replied, “Master, I am treading the Path that leads to Heaven.” “I also am your companion.” “Be my companion, master; heaven is a pleasant place for many.” Seeing these two, a third man asked the same question, received the same answer, and joined them; then a fourth, then a fifth, until finally there were thirty-three.
All these men worked together with spades and axes and made the road smooth and even for a distance of one or two leagues. The village headman saw them and thought to himself, “These men are all following the wrong occupation. If they would only fetch fish and flesh from the forest, or indulge in strong drink, or do something else of the sort, I should make something by it.” So he sent for them and asked them, “What is it you are doing?” “Treading the Path to Heaven, master.” “That is no proper occupation for men living the lives of laymen. What you should do is to bring fish and flesh from the forest, indulge in strong drink, and have a general good time.” But they refused to follow his suggestion, and the more he urged them, the more firmly they refused to do as he suggested.
Finally the village headman became angry. “I will destroy them,” said he. So he went to the king and said to him, “Your majesty, I see a band of thieves going about committing depredations.” The king replied, “Go catch them and bring them before me.” So the village headman arrested the thirty-three youths and haled them before the king. Without instituting an inquiry into their conduct, the king gave the following order, “Cause them to be trampled to death by an elephant.” Thereupon Magha admonished his companions as follows, “Friends, we have no refuge but love. Therefore let your hearts be tranquil. Cherish anger towards no one. Let your hearts be full of love for the king and the village headman and the elephant that tramples you under his feet.” The thirty-three youths followed the admonition of their leader. Such was the power of their love that the elephant dared not approach them.
When the king heard of this, he said, “If the elephant sees so many men, he will not venture to trample them under his feet. Have the men covered with heavy matting, and then order the elephant to trample them.” So the village headman had the men covered with heavy matting and drove the elephant forwards to trample them. But when the elephant was yet a long way off, he turned round and went back. When the king heard what had happened, he thought to himself, “There must be some reason for this.” So he caused the thirty-three youths to be brought before him and asked them, “Friends, is there anything which you have failed to receive at my hands?” “Your majesty, what do you mean?” “I am informed that you are a band of thieves and that you rove about the forest committing depredations.” “Your majesty, who said that?” “Friends, the village headman so informed me.”
“Your majesty, it is not true that we are thieves. The fact is, we are clearing a Path to Heaven for ourselves, and we do this and that. The village headman tried to persuade us to adopt an evil mode of life, and when we refused to follow his suggestions, he became angry at us and determined to destroy us. That is why he said this about us.” “Friends, this animal knows your good qualities; but I, who am a man, was unable to discern them. Pardon me.” So saying, the king made the village headman their slave, together with his children and wife, gave them a riding-elephant, and presented that village to them to do with as they saw fit. Thought the thirty-three youths, “Even in this life the advantage to be derived from the performance of works of merit is clearly to be seen.” And mounting the elephant by turns, they rode about the village.
As they went about the village, they took counsel together, saying, “It is our duty to perform yet more abundant works of merit. What shall we do?” Thereupon the following thought occurred to them, “Let us build at the crossing of the four highways a rest-house for the multitude, making it secure and strong.” So they summoned a builder and ordered him to build a hall for them. And because desire for women had departed from them, they resolved to give women no share in the building of the hall.
Now there were four women living in Magha’s house, Joy, Thoughtful, Goodness, and Wellborn. Goodness went secretly to the builder, gave him a bribe, and said to him, “Brother, give me the principal share in the building of this hall.” “Very well,” replied the builder, agreeing to her proposal. Accordingly he first marked a tree out of which to make a pinnacle, felled it, and laid it aside to season. Then he hewed it and planed it and bored it, and having fashioned it in the form of a pinnacle, carved the following inscription on it, “This is the Hall of Goodness.” Having so done, he wrapped it in a cloth and laid it aside.
Now when he had completed the hall and the day came to erect the pinnacle, he said to the thirty-three youths, “Noble sirs, there is something we have forgotten.” “What is it, sir?” “A pinnacle.” “Let us procure one.” “It is impossible to make one out of a freshly hewn tree. We should procure for a pinnacle a tree felled long ago and laid away to season.” “What had we best do under the circumstances?” “If in anybody’s house there is a completed pinnacle which has been laid away to season and which is for sale, that is the thing for you to search for.” So they searched everywhere, and finding what they wanted in the house of Goodness, offered her a thousand pieces of money for it. But they were unable to secure it for the price they offered. Said Goodness, “If you will give me a share in the building of the hall, I will give you the pinnacle.” But they replied, “We have resolved to give women no share in the building of this hall.” Thereupon the builder said to them, “Noble sirs, what are you doing? With the exception of the World of Brahmā, there is no place from which women are excluded. Take the pinnacle, for if you do, our work will speedily be finished.” “Very well,” said they. So they took the pinnacle and completed the hall. And they divided the hall into three parts, reserving one chamber for kings, another for the poor, and another for the sick.
Then the thirty-three youths built thirty-three seats, and having so done, gave the following orders to the elephant, “If a visitor comes and sits down in a seat, take him and lodge him in the house of whoever built and owns that seat. It then becomes the duty of the owner of that seat to see that his guest’s feet and back are rubbed, to provide him with food both hard and soft, and with lodging; to perform for him, in fact, all the duties of hospitality.” Accordingly, whenever a visitor came, the elephant would take him and conduct him to the house of the owner of the seat in which he had sat, and the owner of the seat would on that day perform for him all the duties of hospitality.
Magha planted an ebony-tree near the hall and built a stone seat at the foot of the ebony-tree. All those who entered the hall looked at the pinnacle, read the inscription, and said, “This is the Hall of Goodness.” The names of the thirty-three youths did not appear.
Joy thought to herself, “The youths who built this hall resolved to deprive us of a share in the building thereof. But Goodness by her own cleverness obtained a share. I also ought to do something. What can I do?” Thereupon the following thought occurred to her, “Those who come to the hall should be provided with water for drinking and water for bathing. I will have a place dug for a pool.” Accordingly Joy caused a bathing-pool to be built.
Thoughtful thought to herself, “Goodness has given a pinnacle, and Joy has caused a swimming-pool to be built. What can I do?” Thereupon the following thought occurred to her, “After those who come to the hall have drunk water and bathed, they should be decked with garlands when they are ready to depart. I will cause a flower garden to be laid out.” So Thoughtful caused a beautiful flower garden to be laid out. So many and so various were the flowers that grew therein that it was impossible for anyone to say, “Such and such a flower-bearing or fruit-bearing tree does not grow in this garden.”
Now Wellborn thought to herself, “I am the daughter of the brother of the mother of Magha and likewise the wife of Magha. The merit of the work he has wrought accrues to me only, and the merit of the work I have wrought accrues to him only.” Accordingly she did nothing but spend her time adorning herself.
Thus did Magha minister to his mother and father, honor his elders in the household, speak the truth, avoid harsh words, avoid backbiting, put away avarice, suppress anger. Even thus did he fulfill the Seven Precepts, as it is said:
If a man support his mother and father, if he honor his elders in the household.
If he be gentle and friendly in conversation, if he avoid backbiting,
If he steadfastly put away avarice, if he be truthful, if he suppress anger.
Such a man the Gods of the Thirty-three call a good man.
Having attained so praiseworthy a state, Magha, upon reaching the end of the term of life allotted to him, was reborn in the World of the Thirty-three as Sakka king of gods. His companions were likewise reborn there. The builder was reborn god Vissakamma.
Now at that time there were Asuras dwelling in the World of the Thirty-three, and when they learned that new gods had been reborn there, they prepared celestial drink for them. But Sakka gave orders to his retinue that no one should drink thereof. The Asuras, however, drank freely and became intoxicated. Thereupon Sakka thought to himself, “Why should I share my kingdom with these deities?” Forthwith, giving a sign to his retinue, he caused them to pick up the Asuras by the heels and fling them into the Great Ocean. So the Asuras fell headlong into the Ocean. By the power of their merit there sprang up at the foot of Mount Sineru the Palace of the Asuras and the Tree that is called Pied Trumpet-flower.
When the conflict between the gods and the Asuras was over and the Asuras had been defeated, there came into existence the City of the Thirty-three. The distance from the eastern gate to the western gate was ten thousand leagues, and the distance from the southern gate to the northern gate was the same. Now this city was provided with a thousand gates and was adorned with gardens and pools, and in the midst thereof, as the fruit of the building of the hall, there arose a palace called the Palace of Victory. Its height was seven hundred leagues, and it was decked with banners three hundred leagues long. On staffs of gold were banners of jewels, and on staffs of jewels were banners of gold; on staffs of coral were banners of pearls, and on staffs of pearls were banners of coral; on staffs of the seven precious stones were banners of the seven precious stones. Such was the palace that arose as the fruit of the building of the hall; a thousand leagues was its height, and it was composed of the seven precious stones.
As the result of the planting of the ebony-tree, there arose the Coral-tree, a hundred leagues in circumference. As the result of the building of the stone seat, there came into existence at the foot of the Coral-tree the Yellowstone throne, of a reddish yellow color like that of the jasmine flower, sixty leagues in length, fifty leagues in breadth, and fifteen leagues thick. When Sakka sits down on this throne, half its mass sinks into the ground; when he rises, it is all above ground. The elephant was reborn as god Erāvaṇa. There are no animals in the World of the Gods; so when he went into the garden to play, he would quit his form as a god and become the elephant Erāvaṇa, a hundred and fifty leagues in size. For the thirty-three youths, Erāvaṇa created thirty-three water-pots, each two or three quarters of a league around.
In the center of all, Erāvaṇa created for Sakka a water-pot called Beautiful. It was thirty leagues in circumference, and above it was a canopy, twelve leagues in size, made entirely of precious stones. At regular intervals about the canopy there arose banners a league in length, made entirely of the seven precious stones. And from the lower edge of each banner depended a row of tinkling bells, which, when they were shaken by the gentle wind, gave forth sweet music like the mingled strains of the music of the five kinds of instruments or the singing of the celestial choir. In the center of the pavilion was prepared for Sakka a jeweled couch a league in length. There Sakka reclined in state. Erāvaṇa created thirty-three water-pots for the thirty-three gods. Each vessel bore seven tusks, each fifty leagues long; each tusk bore seven lotus-tanks; each lotus-tank bore seven lotus-plants; each lotus-plant bore seven flowers; each flower, seven leaves; and on each leaf danced seven celestial nymphs. Thus on all sides round about for a space of fifty leagues there were dancing-assemblies poised on elephants’ tusks. Such was the glory in the enjoyment of which lived Sakka king of gods.
When Goodness died, she was also reborn there. And at the same time there came into existence Goodness, Moot-hall of the gods, nine hundred leagues in extent, than which exists no other place more charming. Here, on the eighth day of the month, is preached the Law. Unto this day, when men behold a charming place, they say, “It is like Goodness, Moot-hall of the gods.” When Joy died, she also was reborn there. And at the same time there came into existence a lotus-tank called Joy, five hundred leagues in extent. When Thoughtful died, she also was reborn there. And at the same time there came into existence Thoughtful’s Creeper-grove, five hundred leagues in extent. Thither they conduct the gods whose prognostics have appeared, and walk rejoicing. But when Wellborn died, she was reborn as a crane in a certain mountain-cave.
Sakka surveyed his wives and considered within himself, “Goodness has been reborn here and likewise Joy and Thoughtful. Now where has Wellborn been reborn?” Perceiving that she had been reborn as a crane in a mountain-cave, he thought to himself, “Because she wrought no work of merit, the foolish girl has been reborn as an animal. It is my duty to have her perform some work of merit and bring her here.” So saying, he laid aside his proper form, and assuming a disguise, he went to her and asked, “What are you doing here?” “But, master, who are you?” “I am your husband, Magha.” “Where were you reborn, husband?” “I was reborn in the Heaven of the Thirty-three. Do you know where your companions were reborn?” “No, husband, I do not.” “They also were reborn in the Heaven of the Thirty-three as my wives. Should you like to see your companions?” “How can I get there?” Said Sakka, “I will carry you thither.”
Placing her in the palm of his hand, he carried her to the World of the Gods and set her free on the bank of the lotus-tank named Joy. Then he said to the other three, “Should you like to see your companion Wellborn?” “Sire, where is she?” “On the bank of the lotus-tank named Joy.” So the three went and looked at her. “Alas!” they cried out, “see what has been the result of the noble woman’s spending her life in the adornment of self! Look now at her beak! Look at her feet! Look at her legs! She presents a beautiful appearance indeed!” Thus did they ridicule her. Having so done, they departed.
Sakka went once more to her and said, “Did you see your companions?” “Yes,” replied Wellborn, “I saw them. They ridiculed me and then went their way. Take me back again.” So Sakka took her back again, set her free in the water, and then asked her, “Did you see their celestial glory?” “Yes, Sire, I did.” “You also should employ such means as will enable you to obtain rebirth there.” “Sire, what shall I do?” “If I admonish you, will you keep my admonition?” “Yes, Sire, I will keep your admonition.” So Sakka taught her the Five Precepts. Having so done, he said to her, “Be zealous in keeping the Precepts,” and departed.
Thenceforth she sought after and ate only such fish as had died a natural death. After a few days had passed, Sakka determined to test her. So he went, and taking the form of a fish, lay down on the surface of the sand, pretending to be dead. When she saw the fish, thinking that it was dead, she took it in her beak. Just as she was about to swallow the fish, it wriggled its tail. The instant she discovered the fish was alive she released it in the water. Sakka waited a little while, and then lay down before her on his back once more. Again thinking it was a dead fish, she took it in her beak. But just as she was about to swallow the fish, it moved the tip of its tail. The instant she saw the fish move its tail she knew it was alive, and therefore let it go. When Sakka had thus tested her three times and had satisfied himself that she was keeping the Precepts faithfully, he revealed his identity to her and said, “I came here for the purpose of testing you. You are keeping the Precepts faithfully. If you continue thus faithfully to keep them, you will before long be reborn as one of my wives. Be heedful.” So saying these words, he departed.
Thenceforth she used for food either fish that had died a natural death or none at all. After only a few days had passed, she shriveled up and died, and solely as the fruit of her virtuous conduct was reborn at Benāres as the daughter of a potter. When she was about fifteen or sixteen years old, Sakka considered within himself, “Where has she been reborn?” Perceiving that she had been reborn at Benāres as the daughter of a potter, he said to himself, “I ought now to go to her.”
So filling a cart with the seven kinds of precious stones disguised as cucumbers, he drove into the city of Benāres. “Come, get cucumbers!” he cried, as he entered the street. But when people came to him with coins in their hands, he said, “I do not part with my cucumbers for a price.” “On what terms do you part with them, then?” the people asked him. “I give them to the woman that keeps the Precepts,” he replied. “Master, what do you mean by ‘precepts’? Are they black or brown or of some other color?” “You don’t even know what Precepts are; much less will you keep them. I will give my cucumbers to the woman who keeps the Precepts.”
“Master, there is a potter’s daughter who is always going about saying, ‘I keep the Precepts.’ Give them to her.” The potter’s daughter said to him, “Very well, master, give them to me.” “Who are you?” “I am a maiden that has never failed to keep the Precepts.” “For you alone have I brought these,” said Sakka. And driving his cart to her house, he presented to her, in the guise of cucumbers, celestial treasure which cannot be taken away by others. And making his identity known to her, he said, “Here is wealth sufficient for you to live on. Keep the Five Precepts unbroken.” So saying, he departed.
At the end of her existence as a potter’s daughter she was reborn in the World of the Asuras as the daughter of Vepacitti, king of Asuras, a bitter enemy of Sakka. Since she had kept the Precepts in two successive existences, she was fair of form, her skin was of a golden hue, and she was endowed with beauty and comeliness the like of which had never been seen. Vepacitti, king of Asuras, said to all the Asura princes who sought her in marriage, “You are not fit to marry my daughter.” Having thus refused to give her in marriage to any of the Asura princes, he said, “My daughter shall choose for herself such a husband as she sees fit.” So saying, he assembled the host of Asuras, and placing a garland of flowers in the hand of his daughter, said to her, “Choose for yourself a husband who suits you.”
At that moment Sakka looked to see where she had been reborn. Perceiving what was taking place, he assumed the form of an aged Asura and went and stood in the outer circle of the assembled company. The daughter of Vepacitti looked this way and that. Suddenly, because in a previous state of existence she had lived with Sakka, she was overwhelmed as by a mighty torrent by the power of the love for him which sprang up within her. And crying out, “He is my husband!” she threw the garland of flowers over his head. Said the Asuras, “For a long time our king has been unable to find a husband suitable for his daughter. Now, however, he has found one. This fellow is old enough to be his daughter’s grandfather.” And they departed, hanging their heads with shame.
Sakka took her by the hand, cried out, “I am Sakka,” and flew up into the air. The Asuras exclaimed, “We have been fooled by Old Sakka,” and started up in pursuit. Mātali the charioteer brought up the chariot called Chariot of Victory and stopped by the way. Thereupon Sakka assisted his bride to mount and set out for the City of the Gods. Now when they reached the Forest of the Silk-cotton Trees, the Garuḍa fledglings, hearing the sound of the chariot and fearing they would be crushed to death, cried out.
When Sakka heard their cries, he asked Mātali, “What are they that are crying?” “Garuḍa birds, Sire,” “Why are they crying?” “They hear the sound of the chariot and fear they will be crushed to death.” “Let not so numerous a host perish, crushed by the impact of the chariot, because of me alone. Cause the chariot to turn back.” Thereupon Mātali gave the sign with the lash to the thousand Sindh horses and caused the chariot to turn back.
When the Asuras saw that the chariot had turned back, they said, “Old Sakka started out in flight from the city of the Asuras, but has just caused his chariot to turn back. Doubtless he has received reënforcements.” And turning back, the Asuras entered the city of the Asuras by the same road by which they had come out and nevermore lifted up their heads. Sakka bore the Asura maiden Wellborn to the City of the Gods and installed her as the chief of twenty-five million celestial nymphs.
One day Wellborn asked Sakka for a boon, saying, “Great king, in this World of the Gods I have neither mother nor father nor brother nor sister; therefore pray take me with you wherever you go.” “Very well,” replied Sakka, promising to do for her as she had asked. Thenceforth, when the tree that is called Pied Trumpet-flower blooms, the Asuras cry out, “Now is the time when our heavenly Coral-tree blooms,” and straightway they sally forth to attack Sakka. Therefore Sakka posts a guard to defend the Nāgas in the sea below, and likewise affords protection to the Supaṇṇas and the Kumbhaṇḍas and the Yakkhas, and likewise to the Four Great Kings. And over all, for the purpose of averting disaster, he places before the gates of the City of the Gods images of Indra bearing the thunderbolt in his hands. When the Asuras, after defeating the Nāgas and the other supernatural beings approach the City of the Gods and see the images of Indra, they cry out, “Sakka has made a sally,” and flee away. End of Story of the Past.
“Thus, Mahāli, Prince Magha adopted the way of Heedfulness. Because he was so heedful, he obtained such sovereignty so exalted and came to rule over the two Worlds of the Gods. Heedfulness is praised by the Buddhas and by others likewise. For it is through Heedfulness that all attain the Higher Attainments, both those that are of this world and those that transcend this world.” So saying, he pronounced the following Stanza,
30. By heedfulness Maghavā attained leadership of the gods;
All men praise heedfulness; heedlessness is ever reprobated.
- 7 a is almost word for word the same as Saṁyutta, xi. 2. 3: i. 230-231. 7 b is a free version of Jātaka 31: i. 198-206. Text: N i. 263-281.
- Ed. note: DN 21.
- Ed. note: Vatapadasutta, SN 1.11.11.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.