Chú giải Pháp Cú · Kệ 224 · Dhp 224

Tích Moggallāna Vấn Đạo

Mahāmoggallānattherapañhavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 224 Kinh Pháp Cú, phẩm Phẫn Nộ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 224)

“Saccaṃ bhaṇe na kujjheyya,
Dajjā appampi, yācito.
Etehi tīhi ṭhānehi,
Gacche devāna santike.”

“Nói thật, không phẫn nộ,
Của ít, thí người xin,
Nhờ ba việc lành nầy,
Người đến gần thiên giới.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ Ngôn Pháp Cú nầy Đức Thế Tôn thuyết lên khi

Ngài ngự tại Tịnh xá Jetavana, đề cập đến câu hỏi của Trưởng Lão Moggallāna.

Một Thuở nọ, Đại Đức đi du ngoạn trên cõi Trời, thấy một Thiên nữ có nhiều oai lực đang đứng tại cửa đền. Thiên nữ ấy đi đến đảnh lễ Đại Đức, Đại Đức bèn hỏi rằng:

- Nầy Thiên nữ! Sự vinh hiển của cô thật lớn thay. Chẳng hay cô đã làm việc chi mà được phước như vậy.

- Bạch Ngài, xin Ngài đừng hỏi tôi việc phước nhỏ nhen ấy.

(Người ta nói rằng: Vì Thiên Nữ hổ thẹn với phước báu nhỏ nhặt của nàng nên nói thế)

Tuy nhiên, Đại Đức cứ hỏi đi hỏi lại mãi. Sau cùng thiên nữ bèn đáp:

- Tôi chẳng bao giờ biết làm phước bố thí hoặc cúng dường lễ bái, cũng chẳng màng nghe Pháp chi cả. Tất cả việc tôi làm là chỉ giữ lời chân thật mà thôi.

Đại Đức lại lần lượt đi đến các tòa Thiên cung khác và hỏi thăm các Thiên nữ về thiện nghiệp của các nàng. Tuy dấu quanh như Thiên nữ trước, nhưng cuối cùng các nàng cũng thưa rằng:

- Bạch Ngài! Tôi không có làm phước bố thí chi cả. Trong thời Đức Phật Kassapa, tôi là một nữ nô lệ. Chủ tôi là người hung hăn, bạo ngược. Ông ta luôn có ý nghĩ cầm roi đánh hoặc gậy cầm tay đánh bể đầu người khác. Có lắm lúc tôi nổi giận, nhưng lại nghĩ rằng: “Ông ta là chủ của mầy, ông ta có quyền hỏi tội mầy giữa đại chúng, hoặc xẻo mũi, xẻo tai mầy, mầy không được quyền giận chủ mầy”. Tôi đã tự nguyên khuyến cáo như thế và đã kềm chế được sự nóng giận. Do đó mà tội được sự vinh hiển nầy.

Một Thiên Nữ khác bạch rằng:

- Bạch Ngài, thuở trước tôi là người giữ ruộng lúa, tôi có dâng một cây mía đến vị Tỳ Khưu…

Cô khác thì: “Tôi có dâng một trái Timbarasaka”(1)

Cô khác nói: “Tôi có dâng trái dưa chuột…” Cô khác thì: “Tôi có dâng một nấm trái Nimba).(2)”

Bằng những lời lẽ như vậy, mỗi Thiên nữ cho biết sự cúng dường nhỏ mọn của mình. Tất cả đều kết luận rằng: Do lẽ đó, chúng tôi được sự vinh hiển nầy. (1) Hay Tinduka, là cây Dinapuroa thường mọc miền nhiệt đới. (2) Cây ở miền Bắc Ấn, trái hột làm dầu thơm.

Khi nghe rõ các tiền nghiệp của Chư Thiên nữ ấy, Đại Đức từ cung Trời trở về, đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch hỏi rằng:

- Bạch Ngài! Có thể nào chỉ với lời chân thật, chỉ dập tắt sự nóng giận, chỉ cúng dường vật rất hèn mọn như trái Timbarūsaka…mà được hưởng sự vinh hiển của Chư Thiên Chăng?

- Nầy Moggallāna! Tại sao ngươi còn hỏi Như Lai? Vậy các Thiên nữ há chẳng giải rõ cái lý nầy cho ngươi nghe rồi hay sao?

- Vâng! Bạch Ngài, con tin tưởng rằng chỉ làm bấy nhiêu đó cũng có thể hưởng được phước lộc Chư Thiên.

- Nầy Moggallāna! Dầu chỉ nói lời chân thật, chỉ dứt bỏ sự sân hận, chỉ cúng dường chút ít. Người ấy cũng có thể thọ sanh lên Thiên giới được như thế cả.

Nói rồi, Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:

“Saccaṃ bhaṇe na kujjheyya,
Dajjā appampi, yācito.
Etehi tīhi ṭhānehi,
Gacche devāna santike.”

“Nói thật, không phẫn nộ,
Của ít, thí người xin,
Nhờ ba việc lành nầy,
Người đến gần thiên giới.”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Saccaṃ bhaṇe: Nói năng, thuyết giảng lẽ thật, trú vững trong sự chân thật.

Na kujjheyya: Đừng giận hờn người khác.

Yācito: Tiếng người ăn xin đây ám chỉ những người xuất gia, có giới đức. Những người tuy không mở miệng xin “hãy cho chút ít” nhưng đến tại nhà người cũng có nghĩa là đi xin. Gặp người đi xin có giới đức như vậy, dầu cho chút ít vật thí hãy cho theo sức của mình.

Etehi tīhi: Trong ba việc lành đó, bất cứ việc nào cũng đưa người lên thiên giới cả.

Cuối thời pháp, nhiều Tỳ Khưu chứng Thánh Quả, nhất là quả Tu Đà Hườn.

Muốn biết làm sao thiện duyên
Sanh lên hưởng phước lộc Chư Thiên
Hãy nghe Phật dạy ba điều thiện
Đúng với lòng tin Đức Mục Liên
Chân thật là nhân sắp đứng đầu
Kể là tắt giận, chớ câu mâu
Sau cùng dâng cúng, tuy rằng ít
Đến bậc ăn xin chẳng vọng cầu.

DỨT TÍCH MOGGALLĀNA VẤN ĐẠO

Mahāmoggallānattherapañhavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Saccaṃ bhaṇeti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto mahāmoggallānattherassa pañhaṃ ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi samaye thero devacārikaṃ gantvā mahesakkhāya devatāya vimānadvāre ṭhatvā taṃ attano santikaṃ āgantvā vanditvā ṭhitaṃ evamāha – “devate mahatī te sampatti, kiṃ kammaṃ katvā imaṃ alatthā”ti? “Mā maṃ, bhante, pucchathā”ti. Devatā kira attano parittakammena lajjamānā evaṃ vadati. Sā pana therena “kathehiyevā”ti vuccamānā āha – “bhante, mayā neva dānaṃ dinnaṃ, na pūjā katā, na dhammo suto, kevalaṃ saccamattaṃ rakkhita”nti. Thero aññāni vimānadvārāni gantvā āgatāgatā aparāpi devadhītaro pucchi. Tāsupi tatheva niguhitvā theraṃ paṭibāhituṃ asakkontīsu ekā tāva āha – “bhante, mayā neva dānādīsu kataṃ nāma atthi, ahaṃ pana kassapabuddhakāle parassa dāsī ahosiṃ, tassā me sāmiko ativiya caṇḍo pharuso, gahitaggahiteneva kaṭṭhena vā kaliṅgarena vā sīsaṃ bhindati. Sāhaṃ uppanne kope ‘esa tava sāmiko lakkhaṇāhataṃ vā kātuṃ nāsādīni vā chindituṃ issaro, mā kujjhī’ti attānameva paribhāsetvā kopaṃ nāma na akāsiṃ, tena me ayaṃ sampatti laddhā”ti. Aparā āha – “ahaṃ, bhante, ucchukhettaṃ rakkhamānā ekassa bhikkhuno ucchuyaṭṭhiṃ adāsiṃ”. Aparā ekaṃ timbarusakaṃ adāsiṃ. Aparā ekaṃ eḷālukaṃ adāsiṃ. Aparā ekaṃ phārusakaṃ adāsiṃ. Aparā ekaṃ mūlamuṭṭhiṃ. Aparā “nimbamuṭṭhi”ntiādinā nayena attanā attanā kataṃ parittadānaṃ ārocetvā “iminā iminā kāraṇena amhehi ayaṃ sampatti laddhā”ti āhaṃsu.

Thero tāhi katakammaṃ sutvā satthāraṃ upasaṅkamitvā pucchi – “sakkā nu kho, bhante, saccakathanamattena, kopanibbāpanamattena, atiparittakena timbarusakādidānamattena dibbasampattiṃ laddhu”nti. “Kasmā maṃ, moggallāna, pucchasi, nanu te devatāhi ayaṃ attho kathito”ti? “Āma, bhante, labbhati maññe ettakena dibbasampattī”ti. Atha naṃ satthā “moggallāna, saccamattaṃ kathetvāpi kopamattaṃ jahitvāpi parittakaṃ dānaṃ datvāpi devalokaṃ gacchatiyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Saccaṃ bhaṇe na kujjheyya, dajjā appampi yācito;
Etehi tīhi ṭhānehi, gacche devāna santike”ti.

Tattha saccaṃ bhaṇeti saccaṃ dīpeyya vohareyya, sacce patiṭṭhaheyyāti attho. Na kujjheyyāti parassa na kujjheyya. Yācitoti yācakā nāma sīlavanto pabbajitā. Te hi kiñcāpi “dethā”ti ayācitvāva gharadvāre tiṭṭhanti, atthato pana yācantiyeva nāma. Evaṃ sīlavantehi yācito appasmiṃ deyyadhamme vijjamāne appamattakampi dadeyya. Etehi tīhīti etesu tīsu ekenāpi kāraṇena devalokaṃ gaccheyyāti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Mahāmoggallānattherapañhavatthu catutthaṃ.

XVII. 4. Do Trifling acts of Merit lead to Heaven?

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

224. A man should speak the truth...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Moggallāna the Great.

For once upon a time the Elder made a journey to heaven, and saw a spirit possessed of great power standing at the door of his mansion. The spirit straightway approached the Elder, saluted him, and took his stand before him. Thereupon the Elder said to him, “Spirit, you possess great glory; what did you do to get it?” “Oh, Reverend Sir, do not ask me.” (We are told that the spirit had performed but a trifling work of merit, and that he spoke thus because he was ashamed to mention it.) The Elder repeated his question, saying, “Please tell me.” Finally the spirit said, “Reverend Sir, I neither gave alms nor rendered honor nor listened to the Law; all that I did was to tell the truth.”

The Elder stopped at the doors of other mansions also, and put the same question to one after another of the female spirits who approached him. They likewise strove to conceal the works of merit which they had performed, but likewise failed to put off the Elder. One of them said, “Reverend Sir, as for almsgiving and the other duties of religion, I did nothing. But in the dispensation of the Buddha Kassapa, I was the slave of a certain man who was excessively harsh and cruel. He thought nothing of seizing a stick or a staff and striking off a person’s head. But when angry thoughts arose within me, I would rebuke myself, saying, ‘He is your master and has power to make public proclamation concerning you, or to cut off your nose or other members; therefore be not angry.’ Thus would I rebuke myself and restrain my angry thoughts; by so doing, I attained this glory. Another said, “Reverend Sir, while I was guarding a field of sugar-cane, I gave a stalk of sugar-cane to a certain monk.” Another said, “I gave a timbarūsaka.” Another said, “I gave an elāḷuka.” Another said, “I gave a phārusaka.” Another said, “I gave a handful of radishes.” Another said, “I gave a handful of nimb-fruit.” In such terms did each mention the slight gift which each had made. All concluded as follows, “By these means did we obtain this glory.”

After listening to the recital of their former deeds of merit, the Elder approached the Teacher and asked him, “Reverend Sir, is it possible to obtain heavenly glory merely by telling the truth or restraining one’s angry thoughts or giving a timbarūsaka and the like?” “Moggallāna, why do you ask me? Did not the female spirits explain the whole matter to you?” “Yes, Reverend Sir, I am convinced that by such slight acts as these heavenly glory may be gained.” Then the Teacher said to him, “Moggallāna, merely by telling the truth, merely by putting away anger, merely by giving a slight gift, men may attain the heavenly world.” So saying, he pronounced the following Stanza,

224. A man should speak the truth, a man should not get angry,
A man should give, when asked to give a little;
By these three acts a man may attain the World of the Gods.

  1. Cf. Dhammapāla’s Introduction to the Vimāna-Vatthu Commentary, pp. 2-4. Text: N iii. 314-317.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này