Tích Ngự Y Kỳ Bá Băng Chân Phật
Jīvakapañhavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 90 Kinh Pháp Cú, phẩm A-la-hán, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 90)
“Gataddhino visokassa,
Vippamuttassa sabbadhi;
Sabbagandhappahīnassa,
Pariḷāho na vijjati.”
“Đến đích không ưu phiền,
Giải thoát ngoài tất cả;
Trừ diệt mọi buộc ràng,
Không còn lửa tham ái.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại vườn xoài của ông Jīvaka (Kỳ Bá), đề cập về một câu hỏi của ông ấy.
Sự tích Ngự y Jīvaka đã giải rõ rộng rãi, đầy đủ chi tiết, đây chỉ lượt thuật vắn tắt mà thôi:
Một thuở nọ, sau khi chia rẽ Tăng và liên kết với Thái tử Ajātasattu (A Xà Thế), Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) có ác ý muốn ám sát Đức Bổn Sư, bèn trèo lên núi Gijjhakūṭa (Kỳ Xà Quật), xeo một hòn đá cho lăn xuống lúc Đức Bổn Sư đang đi phía dưới. Thời may, tảng đá bị hai ngọn núi giữ lại. Nhưng một mảnh đá vỡ bằng tai nấm rơi xuống, làm giập chân Đức Thế Tôn, đến nỗi máu chảy ra khiến Ngài đau nhức dữ dội. Các Tỳ khưu tiếp đỡ ngực Ngài dìu Ngài đi. Đức Bổn Sư muốn từ đây đi đến vườn xoài nên bảo : “Hãy đưa ta đến đó.”. Các Tỳ khưu vâng lệnh Đức Thế Tôn đưa Ngài đến vườn xoài của ông Jīvaka.Ngự y Jīvaka hay tin này liền đến gặp Đức Bổn Sư, để chữa trị vết thương, ông dùng thứ thuốc cay nồng băng bó xong, bạch với Đức Bổn Sư rằng: “Bạch Ngài, con phải đi làm thuốc chữa bịnh cho một người ở trong thành rồi sẽ trở lại, xin Ngài hãy chịu khó chờ con về mở băng thuốc này ra.”.
Ông y sĩ ra đi, làm xong phận sự đối với người bịnh thì đã tới giờ đóng cửa thành, ông không kịp tới cửa cổng. Khi ấy ông lo lắng tự nghĩ : “Chao ôi! Nghiệp ta đã tạo thật là nghiêm trọng, ta đã vì một người bịnh khác mà không lo châu toàn cho Đức Thế Tôn, đã cho thuốc men cay nồng và băng bó vết thương, nhưng bây giờ tới lúc mở băng ra cho Ngài, ta lại không có mặt trong thành để mở băng. Cả đêm nay Đức Như Lai toàn thân sẽ phát nhiệt.”
Ngay lúc đó, Đức Thế Tôn cho gọi Trưởng lão Ānanda và bảo rằng: “Nầy Ānanda! Ngự y Jīvaka tối nay không về kịp đến cửa thành, hiện giờ ông đang lo lắng vì đã đến giờ mở băng vết thương. Vậy ông hãy mở băng vết thương đi.”
Trưởng lão Ānanda mở băng ra, vết thương đã kéo da non.
Qua ngày sau, mặt trời chưa mọc, ông Jīvaka đã về thành, lật đật đến thăm Đức Bổn Sư và hỏi: “Bạch Ngài, Ngài nghe trong châu thân có nồng nhiệt lắm không?”. Đức Bổn Sư đáp:
- Nầy Jīvaka! Dưới cội cây Bồ Đề của Đức Như Lai, tất cả mọi sự nồng nhiệt thảy đều lắng dịu.
Nhân dịp nầy, Ngài thuyết lên thời pháp thích hợp, rồi ngâm lên kệ ngôn rằng :
“Gataddhino visokassa,
Vippamuttassa sabbadhi;
Sabbagandhappahīnassa,
Pariḷāho na vijjati.”
Không còn lo sợ mảy may,
Khi đã cắt đứt mọi dây buộc ràng;
Người đã giải thoát hoàn toàn,
Là người đi mút con đường tử sanh.”
CHÚ GIẢI:
Gataddhino: người đã hoàn tất cuộc hành trình,
tức là đã chứng đắc đạo quả A La Hán. Có hai lộ trình là lộ trình băng qua cõi hoang vu (Kāntaraddhā) và lộ trình đi quanh một vòng luân hồi (Vaṭṭaddhā).
Trong hai lộ trình đó, người lữ hành (Addhiko) đang đi trên lộ trình băng qua cõi hoang vu là chưa đạt đến mục đích đã nhắm, một khi đạt đến mục đích là Níp Bàn rồi, thì gọi là đã hoàn tất cuộc hành trình (Gataddhā). Những chúng sanh còn dính mắc trong vòng luân hồi cứ luẩn quẩn trong đó, thì còn là những người lữ hành mãi mãi (Addhikā). Bởi thế cho nên phải tận cùng vòng luân hồi, các bậc Thánh Nhân nhất là Tu Đà Hườn là những người lữ hành đã tận cùng vòng luân hồi, là những bậc Lậu tận, đã được gọi là những người đến đích (Gataddhā). Đó nghĩa là tiếng Gataddhino.
Visokassa: không ưu phiền (Soka) là đã dứt hết mọi nỗi khổ lo âu, phiền muộn có căn bản là vòng luân hồi.
Vippamuttassa sabbadhi: đã giải thoát hết tất cả là đã giải thoát Pháp Hữu vi nhất là Ngũ uẩn.
Sabbagandhappahīnassa: đã trừ bỏ mọi trói buộc là đã dứt cả bốn loại trói buộc (Gantha): Abhiijjā (Tham xan), Vyāpāda (Oán hận), Sīlabbatāpasāmāsa (Giới cấm thủ) và idaṃ saccābhinivesa (Kiến thủ).
Pariḷāho na vijjati: Có hai loại nồng nhiệt: một của thân và một của tâm. Đối với bậc Lậu tận, khi bị ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài, nhất là sự lạnh, sự nóng thì chỉ có thân nhiệt sanh lên mà thôi.
Câu hỏi của ngự y Jīvaka liên hệ với thân nhiệt này, còn Đức Bổn Sư là bậc Pháp Vương chuyên môn thuyết pháp, giảng đạo, nên nhân dịp này, Ngài thuyết pháp đề cập đến ảnh hưởng của tâm nhiệt (Cetasikapriḷāho)1: “Nầy đạo hữu Jīvaka, nói theo Chân Đế (Paramattha) thì đối với bậc Lậu tận như vậy, không có sự nồng nhiệt.”.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đạt Thánh quả, nhất là quả vị Tu Đà Hườn.
Tích nầy đề cập đến câu hỏi của ngự y Jīvaka, còn nguyên sự tích của ông ngự y nầy rất dài, trong tạng Luật quyển 6 có kể rõ 1 Đây là nói về sự nóng nảy tinh thần, do nhiệt độ của tham, sân… hay lửa tham ái…
Ngự y Kỳ Bá hỏi Phật rằng:
“Ngài thấy trong người có nóng chăng?”
Phật đáp: “Từ khi Ta đại Ngộ,
Trong Ta lửa dục đã trừ căn.”.
Ý Ngài ám chỉ đến Tâm không,
Phiền não đâu còn cháy phía trong,
Nhưng phía ngoài thân, sao khỏi khổ,
Giập chân, nát nịt, máu ròng ròng.
Nghiệp mới tuy là đã dứt rồi,
Nhưng bao quả cũ vẫn còn nhồi,
“Hữu thân hữu khổ là Chân lý!”
Dầu Phật hay ai, cũng thế thôi!
DỨT TÍCH NGỰ Y KỲ BÁ BĂNG CHÂN PHẬT
Jīvakapañhavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Gataddhinoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jīvakambavane viharanto jīvakena puṭṭhapañhaṃ ārabbha kathesi. Jīvakavatthu khandhake (mahāva. 326 ādayo) vitthāritameva.
Ekasmiṃ pana samaye devadatto ajātasattunā saddhiṃ ekato hutvā gijjhakūṭaṃ abhiruhitvā paduṭṭhacitto “satthāraṃ vadhissāmī”ti silaṃ pavijjhi. Taṃ dve pabbatakūṭāni sampaṭicchiṃsu. Tato bhijjitvā gatā papaṭikā bhagavato pādaṃ paharitvā lohitaṃ uppādesi, bhusā vedanā pavattiṃsu. Bhikkhū satthāraṃ maddakucchiṃ nayiṃsu. Satthā tatopi jīvakambavanaṃ gantukāmo “tattha maṃ nethā”ti āha. Bhikkhū bhagavantaṃ ādāya jīvakambavanaṃ agamaṃsu. Jīvako taṃ pavattiṃ sutvā satthu santikaṃ gantvā vaṇapaṭikammatthāya tikhiṇabhesajjaṃ datvā vaṇaṃ bandhitvā satthāraṃ etadavoca – “bhante, mayā antonagare ekassa manussassa bhesajjaṃ kataṃ, tassa santikaṃ gantvā puna āgamissāmi, idaṃ bhesajjaṃ yāva mamāgamanā baddhaniyāmeneva tiṭṭhatū”ti. So gantvā tassa purisassa kattabbakiccaṃ katvā dvārapidahanavelāya āgacchanto dvāraṃ na sampāpuṇi. Athassa etadahosi – “aho mayā bhāriyaṃ kammaṃ kataṃ, yvāhaṃ aññatarassa purisassa viya tathāgatassa pāde tikhiṇabhesajjaṃ datvā vaṇaṃ bandhiṃ, ayaṃ tassa mocanavelā, tasmiṃ amuccamāne sabbarattiṃ bhagavato sarīre pariḷāho uppajjissatī”ti. Tasmiṃ khaṇe satthā ānandattheraṃ āmantesi – “ānanda, jīvako sāyaṃ āgacchanto dvāraṃ na sampāpuṇi, ‘ayaṃ vaṇassa mocanavelā’ti pana cintesi, mocesi na”nti. Thero mocesi, vaṇo rukkhato challi viya apagato. Jīvako antoaruṇeyeva satthu santikaṃ vegena āgantvā “kiṃ nu kho, bhante, sarīre vo pariḷāho uppanno”ti pucchi. Satthā “tathāgatassa kho, jīvaka, bodhimaṇḍeyeva sabbapariḷāho vūpasanto”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Gataddhino visokassa, vippamuttassa sabbadhi;
Sabbaganthappahīnassa, pariḷāho na vijjatī”ti.
Tattha gataddhinoti gatamaggassa kantāraddhā vaṭṭaddhāti dve addhā nāma. Tesu kantārapaṭipanno yāva icchitaṭṭhānaṃ na pāpuṇāti, tāva addhikoyeva, etasmiṃ pana patte gataddhi nāma hoti. Vaṭṭasannissitāpi sattā yāva vaṭṭe vasanti, tāva addhikā eva. Kasmā? Vaṭṭassa akhepitattā. Sotāpannādayopi addhikā eva, vaṭṭaṃ pana khepetvā ṭhito khīṇāsavo gataddhi nāma hoti. Tassa gataddhino. Visokassāti vaṭṭamūlakassa sokassa vigatattā visokassa. Vippamuttassa sabbadhīti sabbesu khandhādidhammesu vippamuttassa, sabbaganthappahīnassāti catunnampi ganthānaṃ pahīnattā sabbāganthappahīnassa. Pariḷāho na vijjatīti duvidho pariḷāho kāyiko cetasiko cāti. Tesu khīṇāsavassa sītuṇhādivasena uppannattā kāyikapariḷāho anibbutova, taṃ sandhāya jīvako pucchati. Satthā pana dhammarājatāya desanāvidhikusalatāya cetasikapariḷāhavasena desanaṃ vinivattento, “jīvaka, paramatthena evarūpassa khīṇāsavassa pariḷāho na vijjatī”ti āha.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Jīvakapañhavatthu paṭhamaṃ.
VII. 1. The Tathāgata Suffers Not
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
90. For him who has completed his journey...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jīvaka’s Mango-grove with reference to a question asked by Jīvaka. The Story of Jīvaka is related in detail in the Khandhaka.
Now on a certain occasion Devadatta joined forces with Ajātasattu, climbed Vulture Peak, and out of the wickedness of his heart, saying to himself, “I will kill the Teacher,” hurled down a rock. Two mountain crags caught the rock and splintered it; but one of the flying pieces struck the foot of the Exalted One and caused blood to flow. The Teacher suffered intense pains and was removed by the monks to Maddakucchi. Desiring to go on to Jīvaka’s Mango-grove, the Teacher said to the monks, “Carry me thither.” So the monks took the Teacher and carried him to Jīvaka’s Mango-grove.
When Jīvaka heard the news, he immediately went to the Teacher and to heal the wound applied an astringent. Then he bound up the wound and said to the Teacher, “Reverend Sir, I have a patient in the city. As soon as I have visited him, I will return. Let this dressing remain exactly as it is until I return.” So saying, Jīvaka went and treated his patient. But the gate was closed when he returned, and he was therefore unable to enter. Thereupon the following thought occurred to him, “I have committed a grievous fault. I applied an astringent to the foot of the Tathāgata and bound up his wound, just as I should have bound up the wound of any other man. It is now time to remove the bandage. For if the bandage remains unbound all night long, the Exalted One will suffer intense pain.”
At that moment the Teacher addressed the Elder Ānanda, “Ānanda, Jīvaka returned late in the evening and was unable to enter the gate. This was the thought in his mind, ‘Now it is time to remove the bandage.’ Therefore remove the bandage.” The Elder removed the bandage, whereupon the scar disappeared like bark from a tree. At early dawn Jīvaka hastened to the Teacher’s side and asked, “Reverend Sir, did you suffer intense pain?” Said the Teacher, “Jīvaka, all suffering is extinguished for the Tathāgata, even as when he sat on the Throne of Enlightenment.” And joining the connection and preaching the Law, he pronounced the following Stanza,
90. For him who has completed his journey, for him who is free from sorrow,
For him who has freed himself from the bonds which beset him on all sides,
For him who has shaken off all the fetters, for such a one, no suffering is possible.
- Text: N ii. 164-166.
- Vinaya, Mahā Vagga, viii. 1: i. 268-281.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.