Pháp Cú, kệ 90–99 · Dhp 90–99

Kinh Pháp Cú, Phẩm A-la-hán

Dhammapada, Arahantavagga

Mười bài kệ phác họa bậc A-la-hán: người đã đi trọn con đường, tâm, lời và việc làm đều an tịnh, sống giữa đời mà không vướng vào đâu.

Trước khi đọc kinh

Phẩm thứ bảy của Kinh Pháp Cú nói về bậc A-la-hán (arahant), người đã hoàn tất con đường tu tập. Bài kệ đầu tiên tóm gọn tất cả: người đã đi trọn đường, không còn sầu muộn, giải thoát mọi mặt, đã đoạn mọi trói buộc, nơi người ấy không còn nhiệt não (kệ 90). Những bài kệ tiếp theo dùng hình ảnh thiên nhiên: như thiên nga rời bỏ ao hồ, người chánh niệm bỏ lại hết nhà này đến nhà khác (kệ 91); như dấu chim bay giữa hư không, lối đi của bậc giải thoát khó tìm theo (kệ 92–93).

Bậc A-la-hán có các căn an tịnh như ngựa được người đánh xe khéo điều phục, đến chư thiên cũng mến mộ (kệ 94). Vị ấy như đất, không chống đối điều gì; như trụ cổng thành, vững chãi; như hồ đã lắng sạch bùn (kệ 95). Tâm vị ấy an tịnh, lời nói và việc làm cũng an tịnh (kệ 96). Kệ 97 là một bài kệ chơi chữ nổi tiếng. Đọc bề mặt, năm chữ Pāli nghe như tả một kẻ xấu: assaddha là “không có niềm tin”, akataññū là “vô ơn” (không biết điều người khác đã làm cho mình), sandhicchedo là “kẻ cắt mối nối”, tức kẻ trộm đục tường, hatāvakāso là “kẻ đã tự hủy cơ hội của mình”, vantāso là “kẻ đã nôn bỏ hy vọng”, tức kẻ tuyệt vọng. Vậy mà dòng cuối lại gọi người ấy là bậc tối thượng nhân. Theo chú giải, mỗi chữ còn một nghĩa thứ hai: không tin suông vào lời người khác vì đã tự mình chứng biết; biết cái vô tác (akata), tức Niết-bàn; đã cắt đứt mối nối của vòng tái sinh; đã dứt mọi cơ hội cho tái sinh; đã nhả bỏ mọi mong cầu. Bản dịch ở đây theo nghĩa sâu ấy, còn cái thú của bài kệ nằm ở chỗ người nghe giật mình trước, rồi mới hiểu ra.

Hai bài kệ cuối nói về nơi chốn. Dù làng hay rừng, chỗ trũng hay chỗ cao, nơi nào có bậc A-la-hán trú thì nơi ấy là chốn đẹp lòng (kệ 98). Những khu rừng hoang mà người đời chẳng thích lại là nơi người lìa tham vui sống, chứ không phải kẻ đuổi theo dục lạc (kệ 99). Phẩm này giúp bạn hình dung mục tiêu của con đường: không phải một đời sống khô khan, mà là sự tự do, an tịnh và trong sáng.

Ý chính

  • Người đã đi trọn đường, đoạn mọi trói buộc, không còn nhiệt não (kệ 90).
  • Như thiên nga rời ao, bỏ lại hết chốn trú ngụ (kệ 91).
  • Như dấu chim giữa hư không, lối đi bậc giải thoát khó tìm (kệ 92–93).
  • Như đất, như trụ cổng thành, như hồ đã lắng sạch bùn (kệ 95).
  • Tâm, lời, việc làm đều an tịnh (kệ 96).
  • Nơi bậc A-la-hán trú là chốn đẹp lòng (kệ 98).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
arahant
A-la-hán: bậc đã hoàn tất con đường
pariḷāha
nhiệt não, sự nóng bức phiền não
suññata vimokkha
giải thoát Không
animitta vimokkha
giải thoát Vô tướng
āsava
lậu hoặc
tādī
bậc như như, không bị lay động
indakhīla
trụ cổng thành

Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 10 tích truyện của phẩm A-la-hán theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli): xem các tích ›

Kinh Pháp Cú, Phẩm A-la-hán

Chuyện câu hỏi của JīvakaJīvakapañhavatthu Đọc tích truyện ›

90.1Đích đã đến, không sầu,Gataddhino visokassa,At journey’s end, rid of sorrow;

90.2Giải thoát ngoài tất cả,vippamuttassa sabbadhi;everywhere free,

90.3Đoạn trừ mọi buộc ràng,Sabbaganthappahīnassa,all ties given up,

90.4Vị ấy không nhiệt não.pariḷāho na vijjati.no fever is found in them.

Chuyện Trưởng lão MahākassapaMahākassapattheravatthu Đọc tích truyện ›

91.1Tự sách tấn chánh niệm,Uyyuñjanti satīmanto,The mindful apply themselves;

91.2Không thích cư xá nào,na nikete ramanti te;they delight in no abode.

91.3Như ngỗng trời rời ao,Haṁsāva pallalaṁ hitvā,Like a swan gone from the marsh,

91.4Bỏ sau mọi trú ẩn.okamokaṁ jahanti te.they leave home after home behind.

Chuyện Trưởng lão BelaṭṭhasīsaBelaṭṭhasīsattheravatthu Đọc tích truyện ›

92.1Tài sản không chất chứa,Yesaṁ sannicayo natthi,Those with nothing stored up,

92.2Ăn uống biết liễu trì,ye pariññātabhojanā;who have understood their food,

92.3Tự tại trong hành xứ,Suññato animitto ca,whose domain is the liberation

92.4Không vô tướng, giải thoát,vimokkho yesaṁ gocaro;of the signless and the empty:

92.5Như chim giữa hư không,Ākāseva sakuntānaṁ,their path is hard to trace,

92.6Hướng chúng đi khó tìm.gati tesaṁ durannayā.like birds in the sky.

Chuyện Trưởng lão AnuruddhaAnuruddhattheravatthu Đọc tích truyện ›

93.1Ai lậu hoặc đoạn sạch,Yassāsavā parikkhīṇā,One whose defilements have ended;

93.2Ăn uống không tham đắm,āhāre ca anissito;who’s not attached to food;

93.3Tự tại trong hành xứ,Suññato animitto ca,whose domain is the liberation

93.4Không, vô tướng, giải thoát.vimokkho yassa gocaro;of the signless and the empty:

93.5Như chim giữa hư không,Ākāseva sakuntānaṁ,their track is hard to trace,

93.6Dấu chân thật khó tìm.padaṁ tassa durannayaṁ.like birds in the sky.

Chuyện Trưởng lão MahākaccāyanaMahākaccāyanattheravatthu Đọc tích truyện ›

94.1Ai nhiếp phục các căn,Yassindriyāni samathaṅgatāni,Whose faculties have become serene,

94.2Như đánh xe điều ngự,Assā yathā sārathinā sudantā;like horses tamed by a charioteer,

94.3Mạn trừ, lậu hoặc dứt,Pahīnamānassa anāsavassa,who has abandoned conceit and defilements;

94.4Người vậy, Chư Thiên mến.Devāpi tassa pihayanti tādino.the unaffected one is envied by even the gods.

Chuyện Trưởng lão SāriputtaSāriputtattheravatthu Đọc tích truyện ›

95.1Như đất không hiềm hận,Pathavisamo no virujjhati,Undisturbed like the earth,

95.2Như cột trụ kiên trì,Indakhilupamo tādi subbato;true to their vows, steady as Indra’s pillar,

95.3Như hồ, không bùn nhơ,Rahadova apetakaddamo,like a lake clear of mud;

95.4Không luân hồi, vị ấy.Saṁsārā na bhavanti tādino.such a one does not transmigrate.

Chuyện chú Sa-di đệ tử của Trưởng lão Tissa ở KosambīKosambivāsitissattherasāmaṇeravatthu Đọc tích truyện ›

96.1Người tâm ý an tịnh,Santaṁ tassa manaṁ hoti,Their mind is peaceful,

96.2Lời an, nghiệp cũng an,santā vācā ca kamma ca;peaceful are their speech and deeds.

96.3Chánh trí, chơn giải thoát,Sammadaññāvimuttassa,Such a one is at peace,

96.4Tịnh lạc là vị ấy.upasantassa tādino.rightly freed through enlightenment.

Chuyện Trưởng lão SāriputtaSāriputtattheravatthu Đọc tích truyện ›

97.1Không tin, hiểu Vô vi.Assaddho akataññū ca,Lacking faith, a house-breaker,

97.2Người cắt mọi hệ lụy,sandhicchedo ca yo naro;one who acknowledges nothing,

97.3Cơ hội tận, xả lyHatāvakāso vantāso,purged of hope, they’ve wasted their chance:

97.4Vị ấy thật tối thượng.sa ve uttamaporiso.that is indeed the supreme person!

Chuyện Trưởng lão Revata ở rừng keoKhadiravaniyarevatattheravatthu Đọc tích truyện ›

98.1Làng mạc hay rừng núiGāme vā yadi vāraññe,Whether in village or wilderness,

98.2Thung lũng hay đồi cao,Ninne vā yadi vā thale;in a valley or the uplands,

98.3La-hán trú chỗ nào,Yattha arahanto viharanti,wherever the perfected ones live

98.4Đất ấy thật khả ái.Taṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ.is a delightful place.

Chuyện một người nữAññataraitthivatthu Đọc tích truyện ›

99.1Khả ái thay núi rừng,Ramaṇīyāni araññāni,Delightful are the wildernesses

99.2Chỗ người phàm không ưa,yattha na ramatī jano;where no people delight.

99.3Vị ly tham ưa thích,Vītarāgā ramissanti,Those free of greed will delight there,

99.4Vì không tìm dục lạc.na te kāmagavesino.not those who seek sensual pleasures.

99.5Arahantavaggo sattamo.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Pháp Cú, kệ 90–99 (Dhammapada, Arahantavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 90–99 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp