Tích Ông Hàng Hoa Hảo Ý
Sumanamālākāravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 68 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 68)
“Tañca kammaṃ kataṃ sādhu,
Yaṃ katvā nānutappati;
Yassa patīto sumano,
Vipākaṃ paṭisevatīti.”
“Nghiệp nào là nghiệp lành,
Làm xong chẳng hối quá,
Tâm thỏa thích hân hoan,
Thọ hưởng ngay thiện quả.”
Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự tại Veḷuvana, đề cập đến người kết tràng hoa, tên là Sumana (Hảo Ý).
Tương truyền rằng: Ông Sumana mỗi ngày từ sáng sớm phải đem nạp cho đức vua Bimbisāra tám vòng hoa Sumanī (Tố Hinh) và nhận tiền ân tứ là tám đồng tiền vàng (kahāpaṇa). Ông vẫn thi hành việc ấy đều đặn. Cho đến một hôm, khi ông Sumana mang hoa đi vào thành nội thì Đức Thế Tôn cũng đang ngự vào thành Rājagaha để khất thực, có dẫn theo đại chúng Tỳ khưu. Từ kim thân, Ngài phóng hào quang sáu màu rực rỡ, biểu lộ thần oai lực của một đấng Chánh Đẳng Giác (Có những lúc Đức Thế Tôn khuất lấp hào quang lục sắc dưới bộ y vàng, giống như vị Sư Đầu đà đang đi khất thực, chẳng hạn như khi Ngài vượt quãng đường xa ba mươi do tuần để đón đường tướng cướp Ahiṃsa (tức Aṅgulimāla). Hoặc cũng như lúc ngự vào hoàng cung Kapilavatthu, Ngài cũng phóng ra sáu đạo hào quang.). Trong ngày nầy cũng thế, từ kim thân tỏa ra hào quang lục sắc, biểu lộ thần oai đại lực của một đấng Chí Tôn, trong lúc Ngài ngự vào thành Rājagaha.
Khi trông thấy tướng mạo quang minh của Đức Thế Tôn quí giá dường châu báu, ông Sumana nhìn kỹ thấy được ba mươi hai tướng tốt và tám mươi phụ tướng của bậc đại nhân đều có đầy đủ nơi Ngài, ông phát tâm trong sạch, nghĩ rằng: “Ta lấy chi để dâng lên Đức Thầy đây?”. Thấy mình chẳng có vật chi khác ngoài mấy tràng hoa ông nghĩ thầm: “Ta sẽ dâng cúng Đức Thầy những đóa hoa nầy.”. Kế đó, ông tự hỏi lấy mình: “Hoa nầy là phẩm vật hàng ngày phải nạp vào cung vua, nếu như hôm nay vua không nhận được hoa, đức vua sẽ giam cầm, sẽ xử tử hoặc sẽ lưu đày ta thì sao?”. Nhưng rồi ông quả quyết tự nhủ rằng: “Thôi thà là ta liều để đức vua xử tử hoặc lưu đày chi cũng được. Xét cho kỹ, dầu đức vua có dung dưỡng ta, thì Ngài cũng chỉ ban cho ta tài sản quí nhất là mạng sống trong kiếp nầy mà thôi. Còn nếu ta cúng dường Đức Bổn Sư thì chắc chắn ta sẽ được nhiều sự lợi ích, sự bình an trong hằng mấy mươi triệu kiếp trái đất, không sai chạy vậy.”.
Sau khi nhất định dứt bỏ sanh mạng để cúng dường Đức Như Lai, ông Sumana còn tự thúc hối rằng: “Ta hãy cúng dường ngay bây giờ, kẻo để trì hoãn e cái tâm trong sạch của ta nó lui sụt.”. Thế là, ông hết sức hoan hỷ, thỏa thích dâng cúng tám vòng hoa lên Đức Thế Tôn. Lần thứ nhất, ông tung hai vòng hoa nhắm phía trên đầu Đức Thế Tôn mà vung tới, những hoa ấy xòe ra như tàng lọng rồi đứng lơ lửng trên không. Ông lại tung tiếp hai vòng hoa nữa ở bên phải, những cánh hoa lại kết thành bức màn hoa che phía tay phải của Đức Thế Tôn. Ông Sumana tung hai vòng hoa thứ ba thì những cánh hoa sa xuống làm tấm màn che phía sau lưng Đức Thế Tôn. Và lần thứ tư, ông tung hai vòng hoa cuối, thì hoa nở thành màn hoa che bên tay trái của Đức Bổn Sư. Như thế, tám vòng hoa được chia làm bốn chỗ chung quanh kim thân đấng Như Lai và chừa trống phía trước như cánh cửa ngõ vậy.
Các cọng hoa đều quay vào trong với nhau, chỉ phô các cánh hoa ra làm mặt, màu trắng sáng như những chiếc dĩa bạc bao quanh kim thân Đức Bổn Sư. Khi Ngài cất bước đi, tuy là giống vô tri nhưng hoa dường như cũng có tâm sùng kính ái mộ, không rời xa Đức Thế Tôn, chúng quấn quít đi theo. Khi Ngài dừng chân thì chúng cũng đứng lại. Từ kim thân Ngài phát ra ngàn lằn điện quang. Cả bốn phía trước, sau, phải, trái và trên đầu Ngài đều phát ra quang tuyến như nhau. Những tia sáng nầy chẳng có tia nào chạy lãng ra xa. Tất cả đều nhiễu quanh Đức Thế Tôn ba vòng rồi nhập lại thành những cây ánh sáng bằng cỡ cây thốt nốt còn tơ, đoạn chạy trước vẹt đường làm cho cả kinh thành đều náo động.
Trong số một trăm tám mươi triệu dân chúng, chín mươi triệu ở trong thành và chín mươi triệu ở ngoài, dầu là nam hay nữ, không một ai không mang vật thực để bát và ra khỏi nhà. Quần chúng reo vang như tiếng sư tử rống, vừa ve vẫy hàng ngàn khúc lụa, tỏ vẻ hoan nghênh cùng đi theo tiếp rước Đức Bổn Sư. Chỉ trong giây lát, tin Đức Thầy thị hiện thần thông, làm hiển lộ công đức cúng dường của người bán hoa được lan truyền khắp cả kinh thành rộng ba phần tư do tuần, y như có người mang trống đi cổ động vậy.
Khi ấy, ông bán hoa nghe khắp châu thân tràn đầy năm thứ phỉ lạc, ông từ từ nối gót theo Đức Như Lai, đi vào vòng hào quang của Ngài như lặn xuống một hồ nước thơm ngon mát mẻ (manosilārase). Đoạn ông thốt lời tán dương Đức Bổn Sư, đảnh lễ cáo biệt Ngài và phủi sạch hai tay không, trở gót về nhà.
Khi ấy vợ ông hỏi rằng: “Hoa đâu?”.
- Tôi đã cúng dường Đức Bổn Sư rồi.
- Nếu vậy, lỡ vua bắt tội thì làm sao?
- Dầu vua có xử tử hoặc lưu đày chi cũng đành, tôi nguyện thí bỏ thân mạng mà cúng dường Đức Bổn Sư, cho nên chia tất cả số hoa làm tám vòng hoa dâng cúng như vầy, như vầy… Còn đại chúng lúc ấy cũng phát lên reo hò đi theo sau Đức Bổn Sư, làm cho trong thành vang rền hàng ngàn tiếng hoan hô như vậy…
Sau khi nghe hết câu chuyện Đức Phật thị hiện thần thông như thế, người vợ ngu si mù quáng, đã chẳng phát tín tâm trong sạch, mà còn trách cứ chồng rằng: “Các quốc vương hùng mạnh thường hay bạo ngược, một khi bị chọc giận, các Ngài có thể gia hình nhiều hình phạt nặng nề như xuống lịnh chặt tay, chặt chân chẳng hạn. Tội lỗi của ông làm thì tôi cũng phải bị liên can không ít.”.
Nói rồi, bà vợ của ông Sumana dắt hết những đứa con trai vào triều, xin bệ kiến đức vua. Quốc vương phán hỏi:
- Nàng kia, nàng muốn tâu xin việc chi?
- Tâu đại vương! Chồng của con đã mang số hoa phải đem nạp đại vương ngày hôm nay, lại cúng dường hết đến Đức Bổn Sư, rồi đi tay không trở về nhà. Con hỏi: “Hoa đâu?” Thì ông ấy đáp lời như thế, như thế. Con rầy ông rằng: “Thường thường các đức vua hay
Có tính hung bạo, một khi đã nổi trận lôi đình, ắt là các Ngài bắt tội, hình phạt ta bằng nhiều cách như là chặt cả tay lẫn chân chẳng hạn. Tội của ông làm mà tôi cũng bị vạ lây.”. Nói rồi, con từ bỏ ổng và đến đây ngay. Công việc dâng hoa đến Phật do chính ông làm, thì dầu có phước cũng chỉ có riêng ông ấy nhờ, còn như có tội thì cũng chỉ mình riêng ông gánh chịu, chớ con với chồng con đã đoạn tuyệt nhau rồi. Mong ân đại vương minh xét cho con nhờ.
Quốc vương là vị Thánh Thinh Văn, lúc gặp Đức Phật lần đầu tiên, Ngài đã đắc quả Tu Đà Hườn, có đức tin kiên cố trong Chánh pháp. Vừa nghe qua mấy lời của vợ ông Sumana, đức vua nghĩ: “Ôi! Nữ nhân nầy thật là mù quáng ngu si làm sao, thấy ân Đức Phật phi thường như thế mà chẳng phát tâm trong sạch tin tưởng nơi Ngài.”.
Quốc vương giả cách nổi giận, phán hỏi rằng:
- Nàng nói sao? Chồng nàng đã mang số hoa phải
nộp cho trẫm mà cúng dường Đức Phật hết rồi phải không?
- Tâu đại vương, phải!
- Con từ bỏ hắn ta là phải lắm. Kẻ nào đem hoa của trẫm mà cúng dường, trẫm sẽ liệu cách mà đối xử với hắn.
Sau khi truyền lệnh cho nữ nhân ấy ra về, quốc vương vội vàng ngự đi đón Đức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài xong rồi, cùng đi bách bộ với Ngài.
Đức Bổn Sư hiểu rõ tâm trạng của đức vua, cho nên Ngài ngự hành diễu qua đại lộ chánh trong kinh thành, tiến về phía hoàng cung. Đến trước ngọ môn, quốc vương xin rước bát của Đức Bổn Sư, ngỏ ý muốn thỉnh Ngài nhập vào vương điện. Nhưng Đức Thầy dừng chân nơi sân ngự trước đền, rút tọa cụ ra.
Quốc vương hội ý, bèn lập tức truyền lịnh cho dân thợ hãy gấp rút dựng lên một cái trại nghỉ mát cho mau.
Đức Bổn Sư an tọa nơi đó cùng với Tỳ khưu Tăng. Tại sao Ngài không ngự vào đền vua? Theo truyền ngôn thì Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Nếu Như Lai ngự vào trong đền, thì đại chúng bên ngoài sẽ không thấy được Như Lai. Như thế thì công đức của người dâng hoa không được hiển dương. Như Lai an tọa nơi sân ngự như vầy, đại chúng sẽ ngắm xem mãn nhãn và công đức của người dâng hoa sẽ được hiển dương.”.
(Quả thật, chỉ có chư Phật mới biểu dương công đức của các bậc hữu ân như thế, chớ thường nhân trong khi tán tụng công đức của các bậc hữu ân thì tiết kiệm từng lời nói.”).
Khi ấy, bốn bức màn hoa đứng ở bốn phía, đại chúng lũ lượt đi theo Đức Thế Tôn đến chỗ ngự.
Quốc vương chăm lo dâng cúng những thực phẩm ngon quí đến Tỳ khưu Tăng, có Đức Phật làm tọa chủ.
Sau bữa ngọ, Ngài thuyết kinh phúc chúc thí chủ xong rồi, Đức Bổn Sư ngự trở về Veḷuvana. Cũng như lúc đến, bốn bức màn hoa lại che phủ kín thân vào đại chúng lại rần rộ theo tiễn chân Ngài, tiếng hoan hô vang rền như tiếng sư tử rống.
Quốc vương cũng ngự đưa Đức Bổn Sư một quãng đường, đoạn đảnh lễ cáo biệt Ngài mà trở lại hoàng cung. Khi ấy, đức vua cho đòi ông Sumana vào triều phán hỏi:
- Nhà ngươi đã nói gì khi cúng dường Đức Bổn Sư những hoa tươi mà ngươi phải nạp cho trẫm?
- Tâu đại vương, con đã nguyện hi sinh tánh mạng mà cúng dường Đức Bổn Sư, nên nói rằng: “Dầu đức vua có lấy luật gia hình hoặc giết bỏ, hoặc tù đày chi con cũng cam tâm.”.
Quốc vương ban khen rằng: “Khanh quả là một bậc đại Trượng phu (Mahāpuriso).”. Phán rồi, đức vua ân thưởng cho ông Sumana tám voi, tám ngựa cùng với nhiều tôi trai, tớ gái, tám y phục trang trí cực kỳ sang trọng và tám ngàn đồng vàng, tám cung nữ điểm trang lộng lẫy được phóng thích khỏi hoàng cung để về làm vợ Sumana. Quốc vương còn cấp thêm cho ông tám làng trù phú để thu thuế nữa. Nói tóm lại là ông Sumana được ban thưởng trọng hậu đủ mọi thứ, mỗi thứ là tám lần như vậy.
Được mục kích chuyện nầy, Đại đức Ānanda nghĩ rằng: “Từ sáng sớm đến giờ đã được hưởng hàng ngàn tiếng hoan hô, và được đại chúng phất lụa đón đưa nồng nhiệt trong ngày hôm nay như thế. Không biết ông Sumana sẽ được hưởng Dị thục quả (vipāka) nào nữa trong ngày vị lai?”.
Đại đức Ānanda bạch hỏi Đức Thế Tôn. Ngài bèn giải rằng:
- Nầy Ānanda, ông chớ suy tư cho rằng nghiệp lành của ông bán hoa đây là nhỏ nhen. Ông ấy đã dám hy sinh tánh mạng để cúng dường ta. Do nhờ có tâm trong sạch với ta như thế mà ông khỏi khổ cảnh trong hằng trăm kappa (kiếp trái đất).
“Kappānaṃ satasahassaṃ,
Duggatiṃ na gamissati;
Ṭhatvā devamanussesu,
Phalaṃ etassa kammuno.
Pacchā paccekasambuddho,
Sumano nāma bhavissati.”
“Trong hằng ngàn kappa,
Khổ cảnh khỏi đọa sa,
Hưởng nhơn thiên phước báu,
Do quả nghiệp vừa tạo,
Sau thành Phật Bích Chi,
Danh Hảo ý vẫn y.”
Khi Đức Bổn Sư an ngự về chùa, Ngài ngự vào Hương thất thì những cánh hoa kia rơi xuống nằm tại ngưỡng cửa.
Chiều hôm ấy, trong Luận Pháp Đường, chư Tỳ khưu khởi lên pháp thoại như vầy: “Ôi! Thật là huyền diệu hy hữu thay, nghiệp lành của Sumana dám hy sinh tính mạng để dâng hoa đến Đức Phật hiện tại, mà trong khoảnh khắc hưởng được đủ thứ bổng lộc như thế.”.
Đức Bổn Sư từ hương thất ngự ra, đi kinh hành rồi Ngài ngự đến Luận pháp đường, ngồi an tọa trên Phật Bảo Tọa. Ngài phán hỏi: “Nầy chư Tỳ khưu! Hôm nay các ông đang ngồi luận bàn về việc chi đó?”.
- Bạch Ngài, chuyện như vầy, như vầy…
Nghe vậy, Đức Bổn Sư xác nhận rằng: “Phải đó, các Tỳ khưu, nghiệp nào mà khi làm xong ta không ăn năn hối hận, mà còn phát tâm thỏa thích hân hoan mỗi khi ta nhớ lại nó, thì nghiệp đó là nghiệp tốt cần nên làm vậy.”.
Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên một thời pháp để giải rộng thêm nghĩa lý, đoạn Ngài kết luận bằng bài kệ nầy:
“Tañca kammaṃ kataṃ sādhu,
Yaṃ katvā nānutappati;
Yassa patīto sumano,
Vipākaṃ paṭisevatīti.”
“Nghiệp nào là nghiệp tốt hay,
Làm xong chẳng chút mảy may hận phiền,
Nghiệp nào Hảo Ý vui yên,
Thọ ngay phước báu tùy duyên hợp thời.”
CHÚ GIẢI:
Trong kệ ngôn Phạn ngữ trên đây, câu thứ hai Yaṃ katvā ám chỉ nghiệp nào mà sau khi làm xong ta không bị lương tâm cắn rứt hay đau khổ, buồn phiền vì nó, mà trái lại ta còn được tái sanh về nhàn cảnh, mà hưởng phước báo Nhơn Thiên, hoặc hưởng quả Níp Bàn.
Yassa patīto sumano: Sau khi đắc Đạo hoặc hưởng quả của phước báo, mỗi lần nhớ lại nghiệp cũ, tâm lại thỏa thích hoan hỷ, vui vẻ thêm lên (Trong câu nầy có hàm tên ông bán hoa là Sumano (Hảo Ý) là nhân vật điển hình cho loại thiện nghiệp nầy vậy.).
Vipākaṃ paṭisevati: Hễ Hảo Ý được thỏa mãn rồi, từ đó mới phát sanh quả Dị thục của Thiện nghiệp trong kiếp quá khứ vậy.
Taṃ kammaṃ kataṃ sādhu: Nghiệp ấy là nghiệp nên làm vì nó tốt đẹp, trong sạch. (Đây là câu kết luận, nhưng trong bài kệ nầy được đặt lên hàng đầu, có lẽ vì Đức Thế Tôn muốn biểu dương thiện nghiệp của người thợ bán hoa Sumana để làm gương cho mọi người bắt chước vậy.)
Thời pháp vừa chấm dứt, tám muôn bốn ngàn chúng sanh được tỏ ngộ Chánh Pháp.
Hảo Ý dâng hoa chẳng hận phiền,
Liều thân đại thí nguyện gieo duyên,
Phật cho hiển lộ phần công đức,
Vua khiến vinh thăng chỗ lợi quyền.
Hiện tại nghiệp lành sanh phước lớn,
Tương lai quả chánh đợi người hiền,
Ai ngờ bỏ cả mà được cả,
Mãn kiếp sanh nhàn sướng tợ tiên.
DỨT TÍCH ÔNG BÁN HOA SUMANA
Sumanamālākāravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Tañca kammaṃ kataṃ sādhūti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto sumanaṃ nāma mālākāraṃ ārabbha kathesi.
So kira devasikaṃ bimbisārarājānaṃ pātova aṭṭhahi sumanapupphanāḷīhi upaṭṭhahanto aṭṭha kahāpaṇe labhati. Athekadivasaṃ tasmiṃ pupphāni gahetvā nagaraṃ paviṭṭhamatte bhagavā mahābhikkhusaṅghaparivuto chabbaṇṇaraṃsiyo vissajjetvā mahatā buddhānubhāvena mahatiyā buddhalīḷāya nagaraṃ piṇḍāya pāvisi. Bhagavā hi ekadā chabbaṇṇaraṃsiyo cīvarena paṭicchādetvā aññataro piṇḍapātiko viya carati tiṃsayojanamaggaṃ aṅgulimālassa paccuggamanaṃ gacchanto viya, ekadā chabbaṇṇaraṃsiyo vissajjetvā kapilavatthuppavesanādīsu viya. Tasmimpi divase sarīrato chabbaṇṇaraṃsiyo vissajjento mahantena buddhānubhāvena mahatiyā buddhalīḷāya rājagahaṃ pāvisi. Mālākāro bhagavato ratanagghiyasadisaṃ attabhāvaṃ disvā dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇaasītānubyañjanasarīrasobhaggaṃ oloketvā pasannacitto “kiṃ nu kho satthu adhikāraṃ karomī”ti cintetvā aññaṃ apassanto “imehi pupphehi bhagavantaṃ pūjessāmī”ti cintetvā puna cintesi – “imāni rañño nibaddhaṃ upaṭṭhānapupphāni, rājā imāni alabhanto maṃ bandhāpeyya vā ghātāpeyya vā raṭṭhato vā pabbājeyya, kiṃ nu kho karomī”ti? Athassa etadahosi “rājā maṃ ghātetu vā bandhāpetu vā raṭṭhato pabbājetu vā, so hi mayhaṃ dadamānopi imasmiṃ attabhāve jīvitamattaṃ dhanaṃ dadeyya, satthupūjā pana me anekāsu kappakoṭīsu alaṃ hitāya ceva sukhāya cā”ti attano jīvitaṃ tathāgatassa pariccaji.
So “yāva me pasannaṃ cittaṃ na patikuṭati, taṃ tāvadeva pūjaṃ karissāmī”ti haṭṭhatuṭṭho udaggudaggo satthāraṃ pūjesi. Kathaṃ? Paṭhamaṃ tāva dveva pupphamuṭṭhiyo tathāgatassa upari khipi, tā uparimatthake vitānaṃ hutvā aṭṭhaṃsu. Aparā dve muṭṭhiyo khipi, tā dakkhiṇahatthapassena mālāpaṭacchannena otaritvā aṭṭhaṃsu. Aparā dve muṭṭhiyo khipi, tā piṭṭhipassena otaritvā tatheva aṭṭhaṃsu. Aparā dve muṭṭhiyo khipi, tā vāmahatthapassena otaritvā tatheva aṭṭhaṃsu. Evaṃ aṭṭha nāḷiyo aṭṭha muṭṭhiyo hutvā catūsu ṭhānesu tathāgataṃ parikkhipiṃsu. Purato gamanadvāramattameva ahosi. Pupphānaṃ vaṇṭāni anto ahesuṃ, pattāni bahimukhāni. Bhagavā rajatapattaparikkhitto viya hutvā pāyāsi. Pupphāni acittakānipi sacittakaṃ nissāya sacittakāni viya abhijjitvā apatitvā satthārā saddhiṃyeva gacchanti, ṭhitaṭhitaṭṭhāne tiṭṭhanti. Satthu sarīrato satasahassavijjulatā viya raṃsiyo nikkhamiṃsu. Purato ca pacchato ca dakkhiṇato ca vāmato ca sīsamatthakato ca nirantaraṃ nikkhantaraṃsīsu ekāpi sammukhasammukhaṭṭhāneneva apalāyitvā sabbāpi satthāraṃ tikkhattuṃ padakkhiṇaṃ katvā taruṇatālakkhandhappamāṇā hutvā purato eva dhāvanti. Sakalanagaraṃ saṅkhubhi. Antonagare nava koṭiyo, bahinagare nava koṭiyoti aṭṭhārasasu koṭīsu ekopi puriso vā itthī vā bhikkhaṃ gahetvā anikkhanto nāma natthi. Mahājano sīhanādaṃ nadanto celukkhepasahassāni karonto satthu puratova gacchati. Satthāpi mālākārassa guṇaṃ pākaṭaṃ kātuṃ tigāvutappamāṇe nagare bhericaraṇamaggeneva acari. Mālākārassa sakalasarīraṃ pañcavaṇṇāya pītiyā paripūri.
So thokaññeva tathāgatena saddhiṃ caritvā manosilārase nimuggo viya buddharasmīnaṃ anto paviṭṭho satthāraṃ thometvā vanditvā tucchapacchimeva gahetvā gehaṃ agamāsi. Atha naṃ bhariyā pucchi “kahaṃ pupphānī”ti? “Satthā me pūjito”ti. “Rañño dāni kiṃ karissasī”ti? “Rājā maṃ ghātetu vā raṭṭhato vā nīharatu, ahaṃ jīvitaṃ pariccajitvā satthāraṃ pūjesiṃ, sabbapupphāni aṭṭha muṭṭhiyova ahesuṃ, evarūpā nāma pūjā jātā. Mahājano ukkuṭṭhisahassāni karonto satthārā saddhiṃ carati, yo esa mahājanassa ukkuṭṭhisaddo, tasmiṃ ṭhāne eso”ti. Athassa bhariyā andhabālatāya evarūpe pāṭihāriye pasādaṃ nāma ajanetvā taṃ akkositvā paribhāsitvā “rājāno nāma caṇḍā, sakiṃ kuddhā hatthapādādicchedanena bahumpi anatthaṃ karonti, tayā katakammena mayhampi anattho siyā”ti putte ādāya rājakulaṃ gantvā raññā pakkositvā “kiṃ eta”nti pucchitā āha – “mama sāmiko tumhākaṃ upaṭṭhānapupphehi satthāraṃ pūjetvā tucchahattho gharaṃ āgantvā ‘kahaṃ pupphānī’ti mayā puṭṭho idaṃ nāma vadesi, ahaṃ taṃ paribhāsitvā ‘rājāno nāma caṇḍā, sakiṃ kuddhā hatthapādādicchedanena bahumpi anatthaṃ karonti, tayā katakammena mayhampi anattho siyā’ti taṃ chaḍḍetvā idhāgatā, tena kataṃ kammaṃ sukataṃ vā hotu, dukkaṭaṃ vā, tassevetaṃ, mayā tassa chaḍḍitabhāvaṃ jānāhi, devā”ti. Rājā paṭhamadassaneneva sotāpattiphalaṃ patto saddho pasanno ariyasāvako cintesi – “aho ayaṃ itthī andhabālā, evarūpe guṇe pasādaṃ na uppādesī”ti. So kuddho viya hutvā, “amma, kiṃ vadesi, mayhaṃ upaṭṭhānapupphehi tena pūjā katā”ti? “Āma, devā”ti. “Bhaddakaṃ te kataṃ taṃ chaḍḍentiyā, mama pupphehi pūjākārassa ahaṃ kattabbayuttakaṃ jānissāmī”ti taṃ uyyojetvā vegena satthu santikaṃ gantvā vanditvā satthārā saddhiṃyeva vicari.
Satthā rañño cittappasādaṃ ñatvā bhericaraṇavīthiyā nagaraṃ caritvā rañño gharadvāraṃ agamāsi. Rājā pattaṃ gahetvā satthāraṃ gehaṃ pavesetukāmo ahosi. Satthā pana rājaṅgaṇeyeva nisīdanākāraṃ dassesi. Rājā taṃ ñatvā “sīghaṃ maṇḍapaṃ karothā”ti taṅkhaṇaññeva maṇḍapaṃ kārāpesi. Nisīdi satthā saddhiṃ bhikkhusaṅghena. Kasmā pana satthā rājagehaṃ na pāvisi?
Evaṃ kirassa ahosi – “sacāhaṃ anto pavisitvā nisīdeyyaṃ, mahājano maṃ daṭṭhuṃ na labheyya, mālākārassa guṇo pākaṭo na bhaveyya, rājaṅgaṇe pana maṃ nisinnaṃ mahājano daṭṭhuṃ labhissati, mālākārassa guṇo pākaṭo bhavissatī”ti. Guṇavantānañhi guṇaṃ buddhā eva pākaṭaṃ kātuṃ sakkonti, avasesajano guṇavantānaṃ guṇaṃ kathento maccharāyati. Cattāro pupphapaṭā catuddisaṃ aṭṭhaṃsu. Mahājano satthāraṃ parivāresi. Rājā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ paṇītenāhārena parivisi. Satthā bhattakiccāvasāne anumodanaṃ katvā purimanayeneva catūhi pupphapaṭehi parikkhitto sīhanādaṃ nadanto mahājanena parivuto vihāraṃ agamāsi. Rājā satthāraṃ anugantvā nivatto mālākāraṃ pakkosāpetvā “mama āharitapupphehi kinti katvā satthāraṃ pūjesī”ti pucchi. Mālākāro “rājā maṃ ghātetu vā raṭṭhato vā pabbājetūti jīvitaṃ pariccajitvā pūjesiṃ devā”ti āha. Rājā “tvaṃ mahāpuriso nāmā”ti vatvā aṭṭha hatthī ca asse ca dāse ca dāsiyo ca mahāpasādhanāni ca aṭṭha kahāpaṇasahassāni ca rājakulato nīharitvā sabbālaṅkārappaṭimaṇḍitā aṭṭha nāriyo ca aṭṭha gāmavare cāti idaṃ sabbaṭṭhakaṃ nāma dānaṃ adāsi.
Ānandatthero cintesi – “ajja pātova paṭṭhāya sīhanādasahassāni ceva celukkhepasahassāni ca pavattanti, ko nu kho mālākārassa vipāko”ti? So satthāraṃ pucchi. Atha naṃ satthā āha – “ānanda, iminā mālākārena appamattakaṃ kammaṃ kata”nti mā sallakkhesi, ayañhi mayhaṃ jīvitaṃ pariccajitvā pūjaṃ akāsi. So evaṃ mayi cittaṃ pasādetvā –
“Kappānaṃ satasahassaṃ, duggatiṃ na gamissati;
Ṭhatvā devamanussesu, phalaṃ etassa kammuno;
Pacchā paccekasambuddho, sumano nāma bhavissatī”ti. –
Āha. Satthu pana vihāraṃ gantvā gandhakuṭipavisanakāle tāni pupphāni dvārakoṭṭhake patiṃsu. Sāyanhasamaye bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “aho acchariyaṃ mālākārassa kammaṃ, dharamānakabuddhassa jīvitaṃ pariccajitvā pupphapūjaṃ katvā taṅkhaṇaññeva sabbaṭṭhakaṃ nāma labhatī”ti. Satthā gandhakuṭito nikkhamitvā tiṇṇaṃ gamanānaṃ aññatarena gamanena dhammasabhaṃ gantvā buddhāsane nisīditvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “āma, bhikkhave, yassa kammassa katattā pacchānutappaṃ na hoti, anussaritānussaritakkhaṇe somanassameva uppajjati, evarūpaṃ kammaṃ kattabbamevā”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Tañca kammaṃ kataṃ sādhu, yaṃ katvā nānutappati;
Yassa patīto sumano, vipākaṃ paṭisevatī”ti.
Tattha yaṃ katvāti yaṃ devamanussasampattīnañceva nibbānasampattiyā ca nibbattanasamatthaṃ sukhudrayaṃ kammaṃ katvā nānutappati, atha kho diṭṭhadhammeyeva anussaritānussaritakkhaṇeyeva pītivegena patīto somanassavegena ca sumano hutvā āyatiṃ pītisomanassajāto hutvā vipākaṃ paṭisevati, taṃ kammaṃ kataṃ sādhu bhaddakanti.
Desanāvasāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosīti.
Sumanamālākāravatthu navamaṃ.
V. 9. Sumana the Gardener
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
68. That deed is well done the doing of which is not followed by remorse,
The fruit whereof one receives with joy and pleasure.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to the gardener Sumana.
We are told that every day, early in the morning, the gardener Sumana used to serve King Bimbisāra with eight measures of jasmine flowers, for each of which he received eight pieces of money. Now one day, just as he was entering the city with the flowers, the Exalted One, surrounded by a mighty retinue of monks, diffusing rays of six colors, with all the mighty power of a Buddha, entered the city for alms. (Sometimes the Exalted One proceeds like any other monk on an alms pilgrimage, concealing the six-colored rays with his robe, as when he went a journey of three leagues to meet Aṅgulimāla. At other times, as when he enters Kapilavatthu and other cities, he diffuses rays of six colors from his person. On this particular day, diffusing rays of six colors from his person, with all the mighty power of a Buddha, with all the grace of a Buddha, he entered Rājagaha.)
When the gardener saw the person of the Exalted One, as it had been an oblation of precious stones, an oblation of gold, and beheld the glory and splendor of the thirty-two major characteristics and the eighty minor characteristics of a great man, he thought to himself, “What good office can I perform for the Teacher?” Seeing nothing better to do, he thought, “I will honor the Teacher with these flowers.” Then he thought again, “These are the flowers with which I always serve the king. If he fails to receive them, he may put me in prison or kill me or banish me. What am I to do?” Then this thought occurred to him, “Let the king kill me or banish me from his kingdom. No matter what he gives me, he can give me wealth which will last only so long as my life endures in this present existence. But if I honor the Teacher, it will avail to my welfare and salvation in untold millions of cycles of time.” Therefore he surrendered his life to the Tathāgata.
Thought he, “So long as my believing heart turns not back, I will do him honor.” And pleased and delighted, elated and happy, he honored the Teacher. How did he do it? First he threw two handfuls of flowers over the Teacher. These remained suspended over his head like a canopy. Then he threw two handfuls more, which descended on his right side and remained suspended like the curtain of a pavilion. The next two handfuls he threw descended behind him and remained suspended. The last two handfuls he threw descended on his left side and remained suspended. Thus the eight measures of flowers, eight handfuls in all, surrounded the Tathāgata on four sides.
In front it was as if there were a gate for him to enter; the stems of the flowers were turned inward, and the petals were turned outward. The Exalted One proceeded as if he were encased in plates of silver. The flowers, senseless things though they were, behaved as though possessed of intelligence, neither breaking apart nor falling, accompanying the Teacher whenever he moved, and remaining stationary whenever he stood still. From the person of the Teacher proceeded rays like the hundred forks of lightning; in front and behind, on his right hand and on his left, and from the crown of his head did rays of light flash forth.
Not one who met him face to face, as he proceeded, ran away, but all without exception walked thrice about him sunwise, and in numbers like clusters of young palm-trees ran before him. The whole city was agitated. There were ninety million people living in the city at this time and ninety million people living outside of the city; and of these one hundred and eighty million people there was not one man or woman who did not come forth bringing alms. Roaring the roar of lions and waving thousands of cloths, the great multitude marched before the Teacher.
In order to make known the meritorious deed of the gardener, the Teacher proceeded through the city for a distance of three leagues to the beating of kettle-drums. The whole body of the gardener was suffused with the five sorts of joy. After accompanying the Tathāgata a little way, he penetrated the rays of the Buddha as one might plunge into a sea of vermilion, praised the Teacher, paid obeisance to him, and then taking his empty basket, went home.
His wife asked him, “Where are your flowers?” “I honored the Teacher with them.” “Now what will you do for the king?” “The king may kill me or banish me from his kingdom. I have surrendered my life to the Teacher and rendered him honor. I had eight handfuls of flowers in all, and with these I honored the Teacher. The populace is accompanying the Teacher, shouting thousands of acclamations. It is the noise of the acclamations of the populace that we hear in this place.”
Now the wife of the gardener was an utter simpleton, and was therefore incapable of believing in such a miracle. So she rebuked her husband, saying, “Kings are harsh and cruel, and when once provoked, do much harm by cutting off hands and feet and inflicting other punishments. Much harm might come to me through what you have done.” Then she took her children with her, went to the royal palace, sent for the king, and when he asked her what was the matter, said to him, “My husband has honored the Teacher with the flowers he should have served to you and has returned home empty-handed. I asked him what he had done with the flowers, and this is what he told me. I rebuked him, saying, ‘Kings are harsh and cruel, and when once provoked, do much harm by cutting off hands and feet and inflicting other punishments. Much harm might come to me through the offense you have committed.’ So I abandoned him and came here. What he has done may be good or evil. All that I care for, your majesty, is to have you know that I have abandoned him.”
Now the king was a Noble Disciple. At the very first sight of the Buddha he had obtained the Fruit of Conversion; his faith was firm and his mind was at peace. He thought to himself, “Oh, this woman is an utter simpleton! Naturally she could have no faith in such a work of merit.” But he pretended to be angry and said to her, “Woman, what say you? He honored the Teacher with flowers he should have served to me?” “Yes, your majesty.” “You did well to abandon him. I shall find a way of dealing with this fellow for rendering honor to another with flowers that belonged to me.” Having dismissed her with these words, he went quickly to the Teacher, paid obeisance to him, and walked with the Teacher alone.
The Teacher, perceiving that the mind of the king was at peace, proceeded to the city and marched through the street to the beating of kettle-drums, until he arrived at the gate of the king’s palace. The king took his bowl and invited the Teacher to enter, but the Teacher indicated his desire to sit in the palace court. The king recognized his desire and gave the order, “Erect a pavilion with all speed.” Accordingly a pavilion was immediately erected, and the Teacher sat therein, surrounded by the Congregation of Monks.
Now why did the Teacher not enter the king’s palace? We are told that the following thought occurred to him, “If I go in and sit down, the populace will not be able to see me, and the good deed of the gardener will not be manifest; but if I sit in the palace court, the populace will be able to see me, and the good deed of the gardener will become manifest to all.” (For the Buddhas alone have the courage to publish abroad the virtues of the virtuous; other folk display jealousy in reciting the virtues of the virtuous.)
The four banks of flowers remained suspended on four sides. The populace waited upon the Teacher, and the king served the Congregation of Monks presided over by the Buddha with choice food. At the conclusion of the meal the Teacher returned thanks, and surrounded as before by the four banks of flowers and accompanied by a great multitude shouting shouts of exultation, proceeded to the monastery.
The king accompanied the Teacher a little way and turned back. Then he sent for the gardener and asked him, “What did you say when you honored the Teacher?” The gardener replied, “Your majesty, I surrendered my life to him and honored him, saying, ‘The king may kill me or banish me from his kingdom.’ ” The king said, “You are a great man.” So saying, he presented him with eight elephants, eight horses, eight male slaves, eight female slaves, eight magnificent sets of jewels, eight thousand pieces of money, eight women taken from the royal harem, adorned with all the adornments, and eight choice villages. These Eightfold Gifts did the king give him.
The Elder Ānanda thought to himself, “Shouts of exultation and acclamation have continued all during the day since early morning. What will be the reward of the gardener?” So he asked the Teacher the question. The Teacher replied, “Ānanda, think not that it was a little thing this gardener did. For he surrendered his life to me and rendered honor to me. Therefore, because he reposed faith in me, he will not enter a state of suffering for a hundred thousand cycles of time, but will receive the fruit of his good deed in the World of the Gods and in the world of men and will become a Private Buddha named Sumana.”
When the Teacher returned to the monastery and entered his Perfumed Chamber, those flowers fell upon the battlement.
In the evening the monks began a discussion in the Hall of Truth: “Oh, how wonderful was the deed of the gardener! He surrendered his life to the living Buddha, rendered him honor with flowers, and straightway received eightfold gifts.” The Teacher came forth from his Perfumed Chamber, proceeded to the Hall of Truth by one of three passageways, and seating himself in the Seat of the Buddha, asked them, “Monks, what is it you are sitting here now talking about?” When they told him, he said to them, “Yes, monks, one should do only deeds the doing of which is not followed by remorse, but every remembrance of which brings only joy.” And joining the connection and instructing them in the Law, he pronounced the following Stanza,
68. That deed is well done the doing of which is not followed by remorse,
The fruit whereof one receives with joy and pleasure.
- This story is referred to at Milindapañha, 11512, 29119-21S 35009. On an interesting reference to another story about the same person at Khuddaka Pāṭha Commentary, 12916-13024, see Introduction, § 7 d, last paragraph. Text: N ii. 40-4-7.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.