Chú giải Pháp Cú · Kệ 69 · Dhp 69

Tích Nữ Thánh Uppalavaṇṇā

Uppalavaṇṇattherīvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 69 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 69) “Madhu’vā maññatī bālo, “Người ngu tưởng mật ngọt,

Yāva pāpaṃ na paccati;
Yadā ca paccatī pāpaṃ,

Khi ác quả chưa mùi,
Đến chừng quả thuần thục,

Attha dukkhaṃ nigacchatīti.” Phải chịu khổ không thôi.”

Kệ ngôn nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự an tại Jetavana, đề cập đến nàng Thánh nữ Uppalavaṇṇā (Thanh Liên Sắc).

Tương truyền rằng: Nàng Uppalavaṇṇā đã từng phát đại nguyện dưới chân Đức Phật Padumuttara và tiếp tục gieo trồng vào ruộng phước trong hằng trăm ngàn đại kiếp. Sau khi luân hồi lên xuống các cõi trời, người, trong thời Đức Phật hiện tại, nàng tái sanh vào một gia đình Trưởng giả ở trong thành Sāvatthī. Cô được cha mẹ đặt tên là Uppalavaṇṇā, vì da mặt cô tuy đen nhưng mịn màng, tươi tắn, thanh lịch như cánh sen xanh phong nhụy. Đến tuổi cặp kê, cô được các vương tôn, công tử nhà quyền quí, danh vọng trong cõi Diêm phù mang lễ vật đến cầu hôn.

Trưởng giả là thân phụ của cô không dứt khoát hồi hôn, từ chối một ai, nhưng ông tự nghĩ: “Ta không thể nhận lời, chiều theo ý muốn của tất cả những nầy. Vậy ta phải lập ra một phương thế.”.

Ông cho gọi tiểu thư đến và hỏi:
- Nầy con, con có thể xuất gia được chăng?

Trưởng giả vừa dứt lời, nàng Uppalavaṇṇā nghe trong đầu cô bừng nóng, như có dầu sôi trăm dạo, nên cô đáp lại ngay:

- Thưa cha, con sẽ xuất gia.

Trưởng giả liền thết tiệc linh đình để làm lễ tiễn đưa con gái, rồi đưa nàng đến chùa của Tỳ khưu Ni (Bhikkhunūpassayaṃ), cho nàng xuất gia Tỳ khưu Ni.

Xuất gia không bao lâu, nàng Uppalavaṇṇā chứng quả A La Hán Hôm ấy, nhằm phiên nàng quét dọn, sửa soạn chỗ làm lễ Phát Lồ sám hối của Tăng Ni.

Sau khi quét tước xong chỗ kiết giới, nàng đốt đèn lên, nàng nhìn lại ngọn đèn làm đối tượng cho đề mục thiền, đắc luôn quả vị A La Hán với Tuệ Phân Tích và các Thắng trí thần thông (abhiññā).

Thời gian sau, nàng Uppalavaṇṇā đi vân du, rồi đi vào rừng Manh Lâm (Andhavana) hành đạo. Lúc bấy giờ chưa có học giới cấm Tỳ khưu Ni ngụ trong rừng.

Khi ấy, nhiều người phát tâm cất cốc cho nàng, bên trong có kê giường, bên ngoài có màn che bốn phía. Nàng đi vào thành Sāvatthī khất thực rồi đi trở ra.

Một thanh niên tên là Nanda, vốn là anh em cô cậu của nàng Uppalavaṇṇā (Mātulaputto), đã nặng tình luyến ái nàng từ khi nàng còn ở gia đình. Nay hay tin nàng trở lại kinh thành, chàng ta thừa lúc nàng chưa về, lẻn đến rừng Andhavanna, lén vào trong cốc của nàng, núp dưới gầm giường.

Khi nàng về đến lều, vào trong đóng cửa lại, vừa lên ngồi trên giường thì thanh niên Nanda từ gầm giường chun ra, trèo lên giường. Nàng la lên: “Đồ ngu, đừng có liều mạng. Đồ ngu, đừng có liều mạng.”. Bất chấp sự kháng cự của người nữ Ni, thanh niên dùng cường lực cưỡng hiếp vị Thánh nữ cho thỏa lòng dục vọng rồi y bỏ chạy đi.

Khi ấy, địa đại dường như không chịu nổi tội ác nặng nề của chàng thanh niên Nanda, nên nứt đôi, chàng ta sa vào nơi đất nứt, bị đọa vào đại địa ngục A Tỳ (Mahāvīci).

Nữ ni Uppalavaṇṇā muốn cho tâm mình khỏi tắc trách bèn đem chuyện nầy trình lên Giáo Hội Tỳ khưu Ni. Chư Ni bạch lại chư Tăng và chư Tăng bạch trình lên Đức Bổn Sư.

Nghe vậy, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu đến phán dạy:

- Nầy các Tỳ khưu! Đối với hàng tứ chúng là Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Cận sự nam, Cận sự nữ, nếu kẻ ngu nào gây ra ác nghiệp thì dầu cho kẻ ấy có vui sướng thỏa mãn được chút ít chi, cũng ví như người nếm qua hương vị ngọt ngào của chất đường và mật chẳng hạn.

Tiếp theo đây, Đức Bổn Sư thuyết lên thời pháp rồi đọc kệ ngôn rằng:

“Madhu’vā maññatī bālo,
Yāva pāpaṃ na paccati;
Yadā ca paccatī pāpaṃ,
Attha (bālo) dukkhaṃ nigacchati.”
“Khi quả ác nghiệp chưa mùi,
Người ngu lầm tưởng yên vui mật đường.
Đến giờ quả chín như thường,
Người ngu mới thấy chán chường khổ đau.”

CHÚ GIẢI:

Madhuvā: Câu kệ Pāli thứ nhất có ý nói việc làm tội lỗi của người ngu vui sướng thỏa thích như là ăn kẹo ngọt, như mật, như đường. Đây là trường hợp của thanh niên Nanda nghĩ tưởng sái quấy như vậy.

Yāva: Trong lúc mà…
Pāpaṃ na paccati: Quả ác dị thục chưa trổ, chưa

chín trong kiếp nầy hoặc trong những kiếp về sau thì người ngu vẫn còn tưởng như trên.

Yadā: Đến chừng hưởng ác quả, đã làm bằng cách thế nầy thế nọ, đến thời trổ quả chín mùi hoặc trong kiếp nầy hoặc trong kiếp sau thì kẻ ác phải chịu khổ thọ hình như ở hỏa ngục chẳng hạn.

Attha bālo dukkhaṃ nigacchati: Khi ấy kẻ ngu đi đến khổ cảnh, là phải bị khổ, bị thọ khổ như vậy.

Khi thời pháp chấm dứt, nhiều vị chứng đắc Thánh quả, nhứt là Tu Đà Hườn quả.

Vào thời khác, đại chúng Tỳ khưu cùng nhau luận đạo trong phòng Pháp hội, đề xướng Pháp thoại như vầy: “Dầu là bậc Lậu Tận (Khīṇāsavā), theo ý tôi nghĩ, các Ngài cũng còn thọ hưởng dục lạc, vui thích ngũ trần, chớ chẳng lẽ làm ngơ. Thật thế, các Ngài đâu phải là bọng cây hay gò mối gì cho cam. Thân thể các Ngài cũng biết thọ hưởng dục lạc, vui thích ngũ trần…”.

Đức Thế Tôn ngự đến phán hỏi: “Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các ông ngồi luận việc chi?”.

Khi nghe đáp: “Bạch Ngài, việc như vầy, như vầy…”, Đức Bổn Sư đính chính rằng: “Nầy các Tỳ khưu, các bậc Lậu Tận (A La Hán) không vui thích ngũ trần, không thọ hưởng dục lạc. Thật thế, như trên mặt những lá sen, nước rơi xuống không thấm ướt, không ứ đọng mà tuột đi luôn và trên đầu mũi kim, hột cải không thể đeo dính, đứng vững được mà phải lăn tuột đi. Cũng như thế ấy, trong tâm bậc Lậu Tận, dục lạc ngũ trần không đeo dính và không ứ đọng lại được.”.

Đến đây, Đức Bổn Sư thuyết pháp giải rộng thêm nghĩa lý rồi Ngài kết luận bằng câu kệ Pháp Cú sau đây:

“Vāri pokkharapatt’eva,
Āraggeriva sāsapo;
Yo na lippati kāmesu,
Tam ahaṃ brūmi brāhmaṇanti.”
Lược dịch:
“Như nước giọt lá sen,
Hột cải gác đầu kim,
Người không nhiễm dục lạc,
Ta gọi Bà la môn.”

Bài kệ nầy nghĩa lý rõ rệt, phù hợp với phẩm Bà la môn, nên về sau được sắp chung vào phẩm ấy.

Nhân dịp nầy, Đức Bổn Sư triệu thỉnh quốc vương Pasenadikosala đến và đề nghị rằng:

- Tâu đại vương! Trong giáo pháp nầy có bao nhiêu công tử thì cũng có bấy nhiêu tiểu thư, đều là con nhà gia giáo vọng tộc, đã từ bỏ quyến thuộc đông đảo và tài sản dồi dào mà xuất gia hành đạo, cư ngụ trong rừng. Khi ngụ trong rừng, các nữ tu ấy hằng bị các thanh niên ác quấy, đê hèn, manh tâm làm khó, đôi khi còn gây tai hại, làm hư hỏng phạm hạnh nữa là khác.

Vì thế, cần phải xây cất chỗ ngụ cho Tỳ khưu ni ở trong vòng kinh thành.

Quốc vương đáp: “Lành thay.”, rồi vâng theo lời đề nghị của Đức Thế Tôn, khiến quan quân kiến thiết một cảnh già lam riêng biệt cho Giáo Hội Tỳ khưu Ni trên một địa điểm trong vòng thành đô.

Từ đó về sau, các Tỳ khưu ni chỉ cư ngụ trong vòng đô thành mà thôi.

Thanh Liên Sắc quí mấy ai bì,
Chẳng khứng làm dâu, khứng đắp y,
Lửa đỏ thiền tâm hơn nữ tử,
Rừng xanh phạm hạnh quá nam nhi.
Từ hôn đã cắt duyên trần tục,
Đắc quả còn mang nợ thiếu thì…
Hỷ Lạc nài hoa, say mật ngọt,
Ngờ đâu đất sụp, dạo A Tỳ.

DỨT TÍCH THÁNH NỮ UPPALAVAṆṆĀ

Uppalavaṇṇattherīvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Madhuvā maññatīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto uppalavaṇṇattheriṃ ārabbha kathesi.

Sā kira padumuttarabuddhassa pādamūle patthanaṃ paṭṭhapetvā kappasatasahassaṃ puññāni kurumānā devesu ca manussesu ca saṃsarantī imasmiṃ buddhuppāde devalokato cavitvā sāvatthiyaṃ seṭṭhikule paṭisandhiṃ gaṇhi. Nīluppalagabbhasamānavaṇṇatāya cassā uppalavaṇṇātveva nāmaṃ akaṃsu. Athassā vayappattakāle sakalajambudīpe rājāno ca seṭṭhino ca seṭṭhissa santikaṃ sāsanaṃ pahiṇiṃsu – “dhītaraṃ amhākaṃ detū”ti. Apahiṇanto nāma nāhosi. Tato seṭṭhi cintesi – “ahaṃ sabbesaṃ manaṃ gahetuṃ na sakkhissāmi, upāyaṃ panekaṃ karissāmī”ti dhītaraṃ pakkosāpetvā, “amma, pabbajituṃ sakkhissasī”ti āha. Tassā pacchimabhavikattā taṃ vacanaṃ sīse āsittaṃ satapākatelaṃ viya ahosi. Tasmā pitaraṃ “pabbajissāmi, tātā”ti āha. So tassā mahantaṃ sakkāraṃ katvā bhikkhunīupassayaṃ netvā pabbājesi. Tassā acirapabbajitāya eva uposathāgāre kālavāro pāpuṇi. Sā dīpaṃ jāletvā uposathāgāraṃ sammajjitvā dīpasikhāya nimittaṃ gaṇhitvā ṭhitāva punappunaṃ olokayamānā tejokasiṇārammaṇaṃ jhānaṃ nibbattetvā tameva pādakaṃ katvā arahattaṃ pāpuṇi saddhiṃ paṭisambhidāhi ceva abhiññāhi ca.

Sā aparena samayena janapadacārikaṃ caritvā paccāgantvā andhavanaṃ pāvisi. Tadā bhikkhunīnaṃ araññavāso appaṭikkhitto hoti. Athassā tattha kuṭikaṃ katvā mañcakaṃ paññāpetvā sāṇiyā parikkhipiṃsu. Sā sāvatthiyaṃ piṇḍāya pavisitvā nikkhami. Mātulaputto panassā nandamāṇavo nāma gihikālato paṭṭhāya paṭibaddhacitto. So tassā āgatabhāvaṃ sutvā theriyā āgamanato puretarameva andhavanaṃ gantvā taṃ kuṭikaṃ pavisitvā heṭṭhāmañcake nilīno theriyā āgantvā kuṭikaṃ pavisitvā dvāraṃ pidhāya mañcake nisinnamattāya bahi ātapato āgatattā cakkhupathe andhakāre avigateyeva heṭṭhāmañcakato nikkhamitvā mañcakaṃ abhiruyha “mā nassi bāla, mā nassi bālā”ti theriyā vāriyamānoyeva abhibhavitvā attanā patthitakammaṃ katvā pāyāsi. Athassa aguṇaṃ dhāretuṃ asakkontī viya mahāpathavī dvedhā bhijji. So pathaviṃ paviṭṭho gantvā mahāavīcimhi eva nibbatti. Therīpi tamatthaṃ bhikkhunīnaṃ ārocesi. Bhikkhuniyo bhikkhūnaṃ etamatthaṃ ārocesuṃ. Bhikkhū bhagavato ārocayiṃsu. Taṃ sutvā satthā bhikkhū āmantetvā, “bhikkhave, bhikkhubhikkhūnī upāsakaupāsikāsu yo koci bālo pāpakammaṃ karonto madhusakkharādīsu kiñci deva madhurarasaṃ khādamāno puriso viya tuṭṭhahaṭṭho udaggudaggo viya karotī”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Madhuvā maññati bālo, yāva pāpaṃ na paccati;
Yadā ca paccati pāpaṃ, bālo dukkhaṃ nigacchatī”ti.

Tattha madhuvāti bālassa hi pāpaṃ akusalakammaṃ karontassa taṃ kammaṃ madhu viya madhurarasaṃ viya iṭṭhaṃ kantaṃ manāpaṃ viya upaṭṭhāti. Iti naṃ so madhuṃva maññati. Yāvāti yattakaṃ kālaṃ. Pāpaṃ na paccatīti diṭṭhadhamme vā samparāye vā vipākaṃ na deti, tāva naṃ evaṃ maññati. Yadā cāti yadā panassa diṭṭhadhamme vā vividhā kammakāraṇā kayiramānassa, samparāye vā nirayādīsu mahādukkhaṃ anubhavantassa taṃ pāpaṃ paccati, atha so bālo dukkhaṃ nigacchati vindati paṭilabhatīti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu.

Aparena pana samayena dhammasabhāyaṃ mahājano kathaṃ samuṭṭhāpesi “khīṇāsavāpi maññe kāmasukhaṃ sādiyanti, kāmaṃ sevanti, kiṃ na sevissanti, na hi ete koḷāparukkhā, na ca vammikā allamaṃsasarīrāva, tasmā etepi kāmasukhaṃ sādiyanti, kāmaṃ sevantī”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “na, bhikkhave, khīṇāsavā kāmasukhaṃ sādiyanti, na kāmaṃ sevanti. Yathā hi padumapatte patitaṃ udakabindu, na vilimpati, na saṇṭhāti, vinivattetvā patateva, yathā ca āragge sāsapo na vilimpati, na saṇṭhāti, vinivattetvā patateva, evaṃ khīṇāsavassa citte duvidhopi kāmo na vilimpati, na saṇṭhātī”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ brāhmaṇavagge gāthamāha –

“Vāri pokkharapatteva, āraggeriva sāsapo;
Yo na limpati kāmesu, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa”nti. (dha. pa. 401);

Imissā attho brāhmaṇavaggeyeva āvi bhavissati. Satthā pana rājānaṃ pasenadikosalaṃ pakkosāpetvā, “mahārāja, imasmiṃ sāsane yatheva kulaputtā, evaṃ kuladhītaropi mahantaṃ ñātigaṇañca bhogakkhandhañca pahāya pabbajitvā araññe viharanti. Tā evaṃ viharamānā rāgarattā pāpapuggalā omānātimānavasena viheṭhentipi, brahmacariyantarāyampi pāpenti, tasmā bhikkhunisaṅghassa antonagare vasanaṭṭhānaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti. Rājā “sādhū”ti sampaṭicchitvā nagarassa ekapasse bhikkhunisaṅghassa vasanaṭṭhānaṃ kārāpesi. Tato paṭṭhāya bhikkhuniyo antogāmeyeva vasantīti.

Uppalavaṇṇattherīvatthu dasamaṃ.

V. 10. Rape of Uppalavaṇṇā

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

69. As sweet as honey, thinks a fool an evil deed, so long as it bears no fruit;
But when it bears fruit, then the fool comes to grief.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the nun Uppalavaṇṇā.

We are told that Uppalavaṇṇā made her Earnest Wish at the feet of the Buddha Padumuttara, and that after performing works of merit for a hundred thousand cycles of time, as she passed from birth to birth among gods and men, she passed from the World of the Gods in the dispensation of the present Buddha and was reborn in Sāvatthi as the daughter of a rich merchant. The hue of her skin was like the hue of the calyx of the blue lotus, and therefore they gave her the name Uppalavaṇṇā. When she reached marriageable age, all the princes and merchants in the Land of the Rose-Apple, without a single exception, sent to the merchant her father, asking him to give them his daughter in marriage.

Thereupon the merchant thought to himself, “I shall not be able to satisfy the wishes of all, but I shall find some way out of the difficulty.” So he summoned his daughter and said to her, “You might become a nun.” Now she was in her last existence before attaining Nibbāna, and therefore his words were to her as it were oil a hundred times refined, sprinkled on her head. Therefore she replied, “Dear father, I will become a nun.” So he prepared rich gifts in her honor, and conducting her to the Community of Nuns, had her admitted to the Order.

Not long after she had been admitted to the Order, her turn came to unlock and lock the Hall of Confession. After she had lighted the lamp and swept the Hall, her attention was attracted to the flame of the lamp. And standing there, she looked repeatedly at the flame; and concentrating her attention on the element of fire, entered into a state of trance. Consummating the trance, she attained Arahatship, together with the Supernatural Faculties and Powers.

Some time later she went on a pilgrimage for alms in the country, and on her return entered a dark forest. At that time it was not forbidden for nuns to reside in a forest. There they built her a hut, set up a bed, and hung curtains round. From the forest she went to Sāvatthi to receive alms, and then set out to return to her hut. Now a cousin of hers, a young Brahman named Ānanda, had been in love with her ever since she lived in the world; and when he heard where she had gone, he went to the forest ahead of the nun, entered the hut, and hid under the bed.

On her return the nun entered the hut, closed the door, and sat down on the bed, unable to see in the dark, because she had just come in out of the sunlight. Hardly had she seated herself on the bed when the youth crawled out from under and climbed on top. The nun cried out, “Fool, do not ruin me! Fool, do not ruin me!” But the youth overcame her resistance, worked his will of her, and went his way. As if unable to endure his wickedness, the great earth burst asunder, and he was swallowed up and reborn in the Great Hell of Avīci.

The nun told the other nuns what had happened, and the nuns told the monks, and the monks told the Exalted One. Having heard this, the Teacher addressed the monks as follows, “Monks, the simpleton, whoever he may be, whether monk or nun, or lay disciple male or female, who commits an act of sin, acts with as much joy and happiness, with as much pleasure and delight, as though he were eating honey or sugar or some other sweet-tasting substance.” And joining the connection and instructing them in the Law, he pronounced the following Stanza,

69. As sweet as honey, thinks a fool an evil deed, so long as it bears no fruit;
But when it bears fruit, then the fool comes to grief.

Some time later the throng assembled in the Hall of Truth began to discuss the incident: “Even those that have rid themselves of the Depravities like the pleasures of love and gratify their passions. Why should they not? They are not kolapa-trees or ant-hills, but are living creatures with bodies of moist flesh. Therefore they also like the pleasures of love and gratify their passions.” The Teacher drew near and asked them, “Monks, what are you sitting here now talking about?” They told him. Then he said, “Monks, they that have rid themselves of the Depravities neither like the pleasures of love nor gratify their passions. For even as a drop of water which has fallen upon a lotus-leaf does not cling thereto or remain thereon, but rolls over and falls off, even as a grain of mustard-seed does not cling to the point of an awl or remain thereon, but rolls over and falls off, precisely so twofold love does not cling to the heart of one who has rid himself of the Depravities or remain there.” And joining the connection, he instructed them in the Law by pronouncing the following Stanza, found in the Brāhmaṇa Vagga,

401. Even as water does not cling to a lotus-leaf, nor a grain of mustard-seed to the point of an awl.
Whoso in like manner clings not to the pleasures of sense, him I call a Brahman.

Now the Teacher summoned King Pasenadi Kosala and said to him, “Your majesty, in this Religion young women of family, as well as young men of family, renounce many kinsfolk and much wealth, retire from the world, and take up residence in the forest. In case women reside in the forest, it is possible that evil-minded men, inflamed by lust, may conduct themselves towards them with disrespect and arrogance, do them violence, and bring their religious life to naught. Therefore a place of residence for the Community of Nuns should be erected within the city.” The king agreed to this and had a place of residence for the Community of Nuns erected on one side of the city. From that time on the nuns resided only within the city.

  1. For the story of Uppalavaṇṇā’s career before her adoption of the religious life, one of the most extraordinary stories in Buddhist literature, see Aṅguttara Commentary, JRAS., 1893, pp. 532 ff.; Therī-Gāthā Commentary, Ixiv: 182-190; and Tibetan Tales, x: 206-215. Text: N ii. 48-52.
  2. See Story xxvi. 18.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.