Tích Sumanādevī
Sumanādevīvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 18 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 18)
“Idha nandati pecca nandati,
Katapuñño ubhayattha nandati;
“Puññaṃ me kata”nti nandati,
Bhiyyo nandati sugatiṃ gatoti”
“Sống sướng, chết cũng sướng,
Kẻ thiện hai đời sướng.
Sướng thấy mình làm lành,
Càng sướng khi vãng sanh”
Kệ Pháp Cú 18 nầy, Đức Bổn Sư thuyết tại Đại Tự Jetavana, khi Ngài an trú nơi ấy, trong thành Sāvatthī, đề cập đến nàng Sumanādevī.
Vào thời ấy, trong thành Sāvatthī, mỗi ngày nơi nhà ông Trưởng giả Anāthapiṇḍika đều có hai ngàn vị Tỳ khưu đến thọ thực và nơi nhà của bà tín nữ Visākhā cũng có số chư Tăng đông như vậy.
Các thiện tín khác trong thành Sāvatthī, bất cứ là ai nếu muốn làm phước Trai Tăng đều phải thông qua hai vị ấy hoặc sở cậy đến sự chỉ dẫn của họ. Tại sao vậy? Bởi vì dầu cho thí chủ nào dám chịu tốn kém xuất ra hằng trăm đồng vàng để làm cuộc lễ phước lớn hơn ông Anāthapiṇḍika hay bà Visākhā, thì cũng vẫn chưa vừa lòng chư Tăng, mà còn bị xầm xì rằng: “Cuộc phước thí gì đâu ấy ?”.
Thật ra, hai vị đại thí chủ nhờ thân cận quen ý chư Tăng nên thành tựu trong việc dâng cúng thực phẩm hạp theo sở thích các Ngài. Do đó, mọi người khi muốn làm phước cúng dường vật chi đến chư Tăng, đều rủ hai vị ấy cùng đi.
Chỉ ngặt có một điều là khi họ đi lo việc giúp người khác thì không có ai trông coi hộ Tăng trong nhà của họ. Bà Visākhā nghĩ thầm: “Ta biết chọn ai thay thế cho ta trông coi hộ độ chư Tăng đến đây lấy bát”.
Thấy đứa cháu nội gái, bà lấy làm ưng ý, bèn giao cho cô ta đứng trông nom việc ấy và nơi đó nhà bà Visākhā đã có cô cháu của bà đảm trách phận sự hộ Tăng đến thọ thực.
Về phần ông Anāthapiṇḍika, ông cũng chỉ định con gái lớn của ông tên là Mahā Subhaddā (Diệu Hiền), thay mặt cho ông, cô này lo phục dịch chư Tăng, nghe kinh thính pháp đắc quả Tu Đà Hườn, rồi có chồng đến cưới rước đi.
Kế đó, ông Anāthapiṇḍika giao trách nhiệm cho người con gái kế là Culla Subhaddā (Tiểu Diệu Hiền), cô nầy cũng làm y như cô chị trước, cũng đắc quả Tu Đà Hườn, rồi có chồng đến rước đi.
Sau cùng, cô con gái út của ông tên là nàng Sumanādevī (Tố Tâm nương tử), đứng ra thay mặt cho cha mà đảm trách phận sự hộ Tăng, cô nghe pháp đắc quả Tư Đà Hàm, nhưng vẫn ở vậy vì không có người đến xin cưới hỏi. Buồn vì tiếng gái lỡ thời cô bỏ ăn nằm liệt giường và nhắn cha cô về gặp mặt.
Ông Anāthapiṇḍika đang ở trong trai đường được tin gấp rút của con gái út. Bèn lật đật trở về nhà hỏi con gái:
- Sumanā con! Con đau làm sao vậy?
- Nầy cậu út, cậu nói chi vậy?
- Sumanā con à! Con nói tầm xàm.
- Chị không nói xàm đâu? Cậu út à.
- Samanā con! Con sợ chết phải không?
- Chị không sợ chết đâu cậu út à.
Nói dứt lời, nàng Sumanādevī làm thinh rồi tắt hơi, đi luôn sang cảnh giới khác.
Dầu đã đắc Sơ quả (Tu Đà Hườn), Trưởng giả Anāthapiṇḍika không sao khuây khỏa nỗi ưu sầu mến tiếc đứa con gái yêu đã mất. Lo việc hỏa táng thi hài cho con xong, ông vừa khóc vừa đi đến chỗ ngụ của Đức Bổn Sư, thấy ông đến Ngài hỏi:
- Nầy gia chủ, có việc chi ông đến đây mà còn khóc? Trông ông có vẻ khổ sở sầu bi, mặt đầy nước mắt vậy?
- Bạch Ngài! – Ông đáp – con gái út của con là Sumanādevī vừa mới từ trần.
- Vậy sao ông khóc, ông há chẳng biết rằng rất cả chúng sanh đều phải chịu chết hay sao?
- Bạch Ngài, con cũng biết lắm, nhưng con gái út của con nó có đầy đủ sự hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi thế nào ấy. Thế mà nó lại mất trí mê tâm nói bậy, nói xàm trong lúc lâm chung. Đó là điều con hết sức buồn rầu đau khổ.
- Nầy phú Trưởng giả, chẳng hay con gái ông đã nói những gì?
- Bạch Ngài, khi con hỏi nó: “Nầy Sumanādevī, con đau làm sao?” thì nó đáp rằng: “Nầy cậu út, cậu nói chi?”. Con lại bảo nó “Sumanā, con nói xàm”, thì nó đáp lại rằng: “Chị không nói xàm đâu cậu út à”. Con nói “Sumanādevī con sợ chết phải chăng?”, nó đáp: “Chị không sợ chết đâu cậu út à” rồi nó làm thinh tắt hơi đi luôn, không trối trăn lời chi nữa hết.
Khi ấy, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Nầy phú Trưởng giả, con gái của ông không nói xàm đâu!”.
- Thế sao nó nói lạ kỳ vậy?
- Nầy gia chủ, sở dĩ con gái ông nói như vậy là vì kể về đạo quả, thì ông phải là em út nhỏ hơn con gái của ông, quả thực ông chỉ chứng bậc Tu Đà Hườn, con gái ông đã chứng bậc Tư Đà Hàm. Tức là về đạo quả con gái ông lớn hơn ông một bậc.
- Bạch Ngài! Thật vậy sao?
- Quả thật vậy đó gia chủ.
- Thế Bạch Ngài! Bây giờ nó sanh về đâu?
- Nầy gia chủ, con ông hiện đang ở Đâu Suất Đà Thiên.
- Bạch Ngài, con gái út của con khi còn sống ở gia đình hằng vui vẻ hoan hỷ, nay chết rồi lại sanh về nơi hoan hỷ như thế nữa sao?
Đức Bổn Sư đáp: “Đúng vậy, nầy gia chủ kẻ nào không buông lung (appamattā) dầu còn tại gia hay đã xuất gia đều được hoan hỷ trong kiếp nầy và luôn kiếp sau như thế cả”.
Nói rồi Ngài ngâm kệ rằng:
“Idha nandati pecca nandati,
Katapuñño ubhayattha nandati;
“Puññaṃ me kata”nti nandati,
Bhiyyo nandati sugatiṃ gatoti”
“Kiếp nầy hoan hỷ bao nhiêu,
Kiếp sau cũng vẫn còn nhiều hỷ hoan.
Nghĩ mình phúc nghiệp vẹn toàn,
Cả trong hai kiếp đều hoan hỷ hoài.
Lại càng hoan hỷ lâu dài,
Khi sanh lên cõi Bồng Lai thiên đường”
CHÚ GIẢI:
Chữ Idha (nơi đây): nghĩa là trong đời kiếp nầy thì hoan hỷ với nghiệp hỷ (kammanandana).
Pecca (sau khi chết): nghĩa là trong đời sau thì hoan hỷ với quả hỷ (vipāka nandati).
Katapuñño (kẻ thiện): chỉ người làm việc thiện việc lành việc phước bằng nhiều đường lối khác nhau.
Ubhayattha (hai nơi): khi còn sống ở đời nầy, hay xét rằng: “Ta chỉ làm việc lành, ta không từng làm việc ác rồi phát tâm hoan hỷ” chết rồi thọ sanh ở cảnh giới khác, cũng nhờ ảnh hưởng quả của nghiệp mà hoan hỷ thêm nữa.
Puññaṃ me (ta làm lành): người thiện đang vui vẻ trong kiếp hiện tại là nhờ có ý nghĩ: “Ta đã làm việc lành, sự vui nầy chưa có bao nhiêu vì chỉ căn cứ trên nghiệp hỷ, càng vui vẻ hơn là khi do quả hỷ mà được siêu sanh về nhàn cảnh”.
Sugatiṃ: Tuổi thọ lâu đến năm trăm bảy mươi sáu triệu năm (satta paññā savassa koṭiyo satthiñca vassa sata sahassāni), tuổi hưởng phước lộc của chư Thiên nơi cung trời Đâu Suất thì càng hoan hỷ vô cùng tận.
Bài kệ vừa dứt, có nhiều vị Tỳ khưu đắc Thánh quả nhất là Tu Đà Hườn, đại chúng thính pháp cũng đều hưởng được lợi ích.
Con gái mà xưng chị với cha,
Tố Tâm nương tử khéo thay là!
Tiến cung Đâu Suất lên thềm ngọc,
Rời chốn trần lao bỏ kiếp hoa!
Thính pháp bất ngờ lên Nhị quả,
Hộ Tăng đâu tính dạo thiên hà?
Lòng trinh một tấm dầu chưa tỏ,
Trưởng giả cầu ân Phật Thích Ca.
DỨT TÍCH NÀNG SUMANĀDEVĪ
Sumanādevīvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Idha nandatīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sumanādeviṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyañhi devasikaṃ anāthapiṇḍikassa gehe dve bhikkhūsahassāni bhuñjanti, tathā visākhāya mahāupāsikāya. Sāvatthiyaṃ yo yo dānaṃ dātukāmo hoti, so so tesaṃ ubhinnaṃ okāsaṃ labhitvāva karoti. Kiṃ kāraṇā? “Tumhākaṃ dānaggaṃ anāthapiṇḍiko vā visākhā vā āgatā”ti pucchitvā, “nāgatā”ti vutte satasahassaṃ vissajjetvā katadānampi “kiṃ dānaṃ nāmeta”nti garahanti. Ubhopi hi te bhikkhusaṅghassa ruciñca anucchavikakiccāni ca ativiya jānanti, tesu vicārentesu bhikkhū cittarūpaṃ bhuñjanti. Tasmā sabbe dānaṃ dātukāmā te gahetvāva gacchanti. Iti te attano attano ghare bhikkhū parivisituṃ na labhanti. Tato visākhā, “ko nu kho mama ṭhāne ṭhatvā bhikkhusaṅghaṃ parivisissatī”ti upadhārentī puttassa dhītaraṃ disvā taṃ attano ṭhāne ṭhapesi. Sā tassā nivesane bhikkhusaṅghaṃ parivisati. Anāthapiṇḍikopi mahāsubhaddaṃ nāma jeṭṭhadhītaraṃ ṭhapesi. Sā bhikkhūnaṃ veyyāvaccaṃ karontī dhammaṃ suṇantī sotāpannā hutvā patikulaṃ agamāsi. Tato cūḷasubhaddaṃ ṭhapesi. Sāpi tatheva karontī sotāpannā hutvā patikulaṃ gatā. Atha sumanadeviṃ nāma kaniṭṭhadhītaraṃ ṭhapesi. Sā pana dhammaṃ sutvā sakadāgāmiphalaṃ patvā kumārikāva hutvā tathārūpena aphāsukena āturā āhārupacchedaṃ katvā pitaraṃ daṭṭhukāmā hutvā pakkosāpesi. So ekasmiṃ dānagge tassā sāsanaṃ sutvāva āgantvā, “kiṃ, amma sumane”ti āha. Sāpi naṃ āha – “kiṃ, tāta kaniṭṭhabhātikā”ti? “Vilapasi ammā”ti? “Na vilapāmi, kaniṭṭhabhātikā”ti. “Bhāyasi, ammā”ti? “Na bhāyāmi, kaniṭṭhabhātikā”ti. Ettakaṃ vatvāyeva pana sā kālamakāsi. So sotāpannopi samāno seṭṭhidhītari uppannasokaṃ adhivāsetuṃ asakkonto dhītu sarīrakiccaṃ kāretvā rodanto satthu santikaṃ gantvā, “kiṃ, gahapati, dukkhī dummano assumukho rodamāno āgatosī”ti vutte, “dhītā me, bhante, sumanadevī kālakatā”ti āha. “Atha kasmā socasi, nanu sabbesaṃ ekaṃsikaṃ maraṇa”nti? “Jānāmetaṃ, bhante, evarūpā nāma me hiriottappasampannā dhītā, sā maraṇakāle satiṃ paccupaṭṭhāpetuṃ asakkontī vilapamānā matā, tena me anappakaṃ domanassaṃ uppajjatī”ti. “Kiṃ pana tāya kathitaṃ mahāseṭṭhī”ti? “Ahaṃ taṃ, bhante, ‘amma, sumane’ti āmantesiṃ. Atha maṃ āha – ‘kiṃ, tāta, kaniṭṭhabhātikā’ti? ‘Vilapasi, ammā’ti? ‘Na vilapāmi, kaniṭṭhabhātikā’ti. ‘Bhāyasi, ammā’ti? ‘Na bhāyāmi kaniṭṭhabhātikā’ti. Ettakaṃ vatvā kālamakāsī”ti. Atha naṃ bhagavā āha – “na te mahāseṭṭhi dhītā vilapatī”ti. “Atha kasmā bhante evamāhā”ti? “Kaniṭṭhattāyeva. Dhītā hi te, gahapati, maggaphalehi tayā mahallikā. Tvañhi sotāpanno, dhītā pana te sakadāgāminī. Sā maggaphalehi tayā mahallikattā taṃ evamāhā”ti. “Evaṃ, bhante”ti? “Evaṃ, gahapatī”ti. “Idāni kuhiṃ nibbattā, bhante”ti? “Tusitabhavane, gahapatī”ti. “Bhante, mama dhītā idha ñātakānaṃ antare nandamānā vicaritvā ito gantvāpi nandanaṭṭhāneyeva nibbattā”ti. Atha naṃ satthā “āma, gahapati, appamattā nāma gahaṭṭhā vā pabbajitā vā idha loke ca paraloke ca nandantiyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Idha nandati pecca nandati, katapuñño ubhayattha nandati;
Puññaṃ me katanti nandati, bhiyyo nandati suggatiṃ gato”ti.
Tattha idhāti idha loke kammanandanena nandati. Peccāti paraloke vipākanandanena nandati. Katapuññoti nānappakārassa puññassa kattā. Ubhayatthāti idha “kataṃ me kusalaṃ, akataṃ me pāpa”nti nandati, parattha vipākaṃ anubhavanto nandati. Puññaṃ meti idha nandanto pana “puññaṃ me kata”nti somanassamatteneva kammanandanaṃ upādāya nandati. Bhiyyoti vipākanandanena pana sugatiṃ gato sattapaññāsavassakoṭiyo saṭṭhivassasatasahassāni dibbasampattiṃ anubhavanto tusitapure ativiya nandatīti.
Gāthāpariyosāne bahū sotāpannādayo ahesuṃ. Mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.
Sumanādevīvatthu terasamaṃ.
I. 13. Lady Sumanā
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
18. Here he rejoices, after death he rejoices: he that has done good works rejoices in both places.
He rejoices to think, “I have done good works;” yet more does he rejoice, gone to a world of bliss.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Lady Sumanā.
For every day two thousand monks take their meal in the house of Anāthapiṇḍika at Sāvatthi, and a like number in the house of the eminent female lay disciple Visākhā. Whoever desires to give alms at Sāvatthi, first seeks the good offices of these two lay disciples. Do you ask the reason for this? Suppose you are asked the question, “Has Anāthapiṇḍika or Visākhā given alms equal in amount to those which you have given?” and you answer, “They have not,” you may dispense a hundred thousand pieces of money in alms, and in spite of this the monks will murmur dissatisfaction, saying, “What kind of alms are these?” The explanation is that both of these lay disciples understand thoroughly the tastes of the Congregation of Monks and know exactly what is the proper thing to do; therefore all who desire to give alms take them with them when they go. And thus it happens that they are unable to minister to the monks in person in their own houses.
Under these circumstances Visākhā, considering within herself, “Who shall stand in my place and minister to the Congregation of Monks?” seeing the daughter of her son, appointed her to represent her; and thenceforth Visākhā’s granddaughter ministered to the Congregation of Monks in Visākhā’s residence. Anāthapiṇḍika appointed his oldest daughter Mahā Subhaddā; the latter showed the monks the customary attentions, hearkened to the Law, and as a result obtained the Fruit of Conversion; afterwards she married and went to live with her husband’s family. Then he appointed Culla Subhaddā, who followed her older sister’s example, obtaining the Fruit of Conversion, and afterwards marrying and going to live with the family of her husband. Finally he appointed his youngest daughter Sumanā. Sumanā obtained the Fruit of the Second Path, but remained unmarried. Overwhelmed with disappointment at her failure to obtain a husband, she refused to eat, and desiring to see her father, sent for him.
Anāthapiṇḍika was in the refectory when he received his daughter’s message, but immediately went to her and said, “What is it, dear daughter Sumanā?” Sumanā said to him, “What say you, dear youngest brother?” “You talk incoherently, dear daughter.” “I am not talking incoherently, youngest brother.” “Are you afraid, dear daughter?” “I am not afraid, youngest brother.” She said no more, but died immediately.
Although the treasurer had obtained the Fruit of Conversion, he was unable to bear the grief that arose within him. Accordingly, when he had performed the funeral rites over his daughter’s body, he went weeping to the Teacher. Said the Teacher, “Householder, how is it that you come to me sad and sorrowful, with tears in your eyes, weeping?” “Reverend Sir, my daughter Sumanā is dead.” “Well, why do you weep? Is not death certain for all?” “I know that, Reverend Sir. But my daughter was so modest and so conscientious. What grieves me so much is the thought that when she died, she was unable to recover her right mind, but died raving incoherently.”
“But what did your youngest daughter say, great treasurer?” “Reverend Sir, I addressed her as ‘dear Sumanā,’ and she replied, ‘What say you, dear youngest brother?’ Then I said to her, ‘You talk incoherently, dear daughter.’ ‘ I am not talking incoherently, youngest brother.’ ‘Are you afraid, dear daughter?’ ‘I am not afraid, youngest brother.’ She said no more, but died immediately.”
Said the Exalted One to Anāthapiṇḍika, “Great treasurer, your daughter did not talk incoherently.” “But why did she speak thus?” “Solely because you were her youngest brother. Householder, your daughter was old in the Paths and the Fruits, for while you have attained but the Fruit of Conversion, your daughter had attained the Fruit of the Second Path. Thus it was, because she was old in the Paths and the Fruits, that she spoke thus.” “Was that the reason, Reverend Sir?” “That was the reason, householder.”
“Where has she now been reborn, Reverend Sir?” “In the World of the Tusita gods, householder.” “Reverend Sir, while my daughter remained here among her kinsfolk, she went about rejoicing, and when she went hence, she was reborn in the World of Joy.” Then the Teacher said to him, “It is even so, householder. They that are heedful, be they lay folk or religious, rejoice both in this world and in the world beyond.” So saying, he pronounced the following Stanza,
18. Here he rejoices, after death he rejoices: he that has done good works rejoices in both places.
He rejoices to think, “I have done good works;” yet more does he rejoice, gone to a world of bliss.
- Cf. the story of Kavi in Manu, ii. 150 (Lanman’s Sanskrit Reader, 61’’). Text: N i. 151-154.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.