Chú giải Pháp Cú · Kệ 148 · Dhp 148

Tích Trưởng Lão Ni Út Tá Ra Bị Té

Uttarātherīvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 148 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 148)

“Parijiṇṇamidaṃ rūpaṃ,
Roganiddhaṃ pabhaṅguraṃ;
Bhijjati pūti sandeho,
Maraṇantaṃ hi jīvitaṃ.”

“Sắc nầy bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đổ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết lên khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Ni Út Tá Ra (Uttarā).

Tương truyền rằng: Trưởng lão Ni Uttarā có tuổi thọ là một trăm hai mươi tuổi. Sau khi đi khất thực, thọ được cơm bát, trở về dọc đường bà gặp một vị Tỳ khưu. Bà hỏi vị ấy về việc đi bát và xin để bát cúng dường vị ấy. Vị ấy từ chối một vài lần rồi lặng thinh thọ bát. Bà dâng hết vật thực cho vị Tỳ khưu và chịu nhịn đói.

Đến ngày thứ hai, ngày thứ ba cũng như thế, Trưởng lão Ni Uttarā đã nhịn đói trọn cả ba ngày như trước. Vào ngày thứ tư, khi trời rựng sáng, với Phật Tuệ Đức Thế Tôn trông thấy duyên lành Đạo quả của Nữ Ni Uttarā đã chín muồi, nên Ngài ngự đi khất thực trên con đường mà bà Uttarā sẽ đi.

Trưởng lão Ni đi trì bình trong chỗ đông người, chợt thấy Đức Thế Tôn, bà vội vàng tách khỏi đám đông. Bất ngờ vạt y của bà thòng xuống đất, bà vấp phải nó và không thể gượng đứng nên té xuống đất. Bậc Đạo Sư ngự đến gần bà, phán rằng:

- Nầy Uttarā! Xác thân (tự ngã) của ngươi nay đã già yếu rồi, chẳng bao lâu nó sẽ vỡ tan!

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Parijiṇṇamidaṃ rūpaṃ,
Roganiddhaṃ pabhaṅguraṃ;
Bhijjati pūti sandeho,
Maraṇantaṃ hi jīvitaṃ.”

Cái hình hài suy già nầy, là cái rừng tập trung bịnh tật, dễ hư nát. Đã có tụ tất có tan, có sinh tất có tử.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Bài kệ nầy có ý nghĩa rằng: “Nầy Uttarā, cái sắc có tên là xác thân của cô đây, nó đã già yếu vì chất nhiều tuổi thọ rồi, và nó là khu rừng bịnh tật vì là chỗ chứa đủ thứ bịnh tật. Chẳng khác nào con chó rừng tuy còn trẻ, người ta cũng gọi là con chó rừng già (con cáo già) hoặc dây thúi địch (Galocilatā) còn non xanh người ta cũng gọi là dây thúi địch. Cái xác thân hôi thúi nầy nó dễ hư hoại vì luôn luôn có nước dơ rịn chảy đều đều, cũng y chang như vậy, mặc dầu khi mới sanh ra sắc nó óng chuốc như vàng ròng. Hễ cái xác thúi tan rã như thế nào thì xác thân của cô, không bao lâu nữa, cũng sẽ tan rã như thế ấy. Tại sao vậy? Tại vì mạng sống sẽ kết liểu bằng sự chết, cho nên tất cả chúng sanh hiện còn sống rốt cuộc rồi cũng phải chịu chết đều nhau cả thảy.”

Cuối thời Pháp, Trưởng lão Ni đắc Tu Đà Hườn quả, kỳ dư đại chúng đều hưởng được lợi ích của sự thính pháp.

Tuổi đã trăm hai vẫn giữ bình,
Ba ngày nhịn bát, cúng Sư huynh,
Bữa sau vấp té vì kiệt sức,
Phật đến khuyên bà hãy cảm kinh.
Tự quán: Thân nầy kiệt quệ rồi,
Chỉ là một ổ bịnh tanh hôi,
Rồi đây, khối trược nầy tan rã,
Mạng sống tận cùng bởi chết thôi!

DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO NI UTTARĀ BỊ TÉ

Uttarātherīvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Parijiṇṇamidanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto uttarātheriṃ nāma bhikkhuniṃ ārabbha kathesi.

Therī kira vīsavassasatikā jātiyā piṇḍāya caritvā laddhapiṇḍapātā antaravīthiyaṃ ekaṃ bhikkhuṃ disvā piṇḍapātena āpucchitvā tassa apaṭikkhipitvā gaṇhantassa sabbaṃ datvā nirāhārā ahosi. Evaṃ dutiyepi tatiyepi divase tasseva bhikkhuno tasmiṃyeva ṭhāne bhattaṃ datvā nirāhārā ahosi, catutthe divase pana piṇḍāya carantī ekasmiṃ sambādhaṭṭhāne satthāraṃ disvā paṭikkamantī olambantaṃ attano cīvarakaṇṇaṃ akkamitvā saṇṭhātuṃ asakkontī parivattitvā pati. Satthā tassā santikaṃ gantvā, “bhagini, parijiṇṇo te attabhāvo na cirasseva bhijjissatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Parijiṇṇamidaṃ rūpaṃ, roganīḷaṃ pabhaṅguraṃ;
Bhijjati pūtisandeho, maraṇantañhi jīvita”nti.

Tassattho – bhagini idaṃ tava sarīrasaṅkhātaṃ rūpaṃ mahallakabhāvena parijiṇṇaṃ, tañca kho sabbarogānaṃ nivāsaṭṭhānaṭṭhena roganīḷaṃ, yathā kho pana taruṇopi siṅgālo “jarasiṅgālo”ti vuccati, taruṇāpi gaḷocīlatā “pūtilatā”ti vuccati, evaṃ tadahujātaṃ suvaṇṇavaṇṇampi samānaṃ niccaṃ paggharaṇaṭṭhena pūtitāya pabhaṅguraṃ, so esa pūtiko samāno tava deho bhijjati, na cirasseva bhijjissatīti veditabbo. Kiṃ kāraṇā? Maraṇantañhi jīvitaṃ yasmā sabbasattānaṃ jīvitaṃ maraṇapariyosānamevāti vuttaṃ hoti.

Desanāvasāne sā therī sotāpattiphalaṃ pattā, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Uttarātherīvatthu tatiyaṃ.

XI. 3. The Aged Nun

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

148. This body is worn out...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the nun Uttarā.

The story goes that this nun continued her alms-pilgrimages until she was a hundred and twenty years old. One day as she was returning from her alms-pilgrimage with food in her bowl, she met a certain monk in the street. She asked permission of him to give him the food in her bowl, and he consented to accept it. So she gave him all she had, and then she had none. On the second day and again on the third day she met the same monk in the same place, gave him all the food she had, and then had none left for herself.

Now on the fourth day, as she was going her round, she met the Teacher in a certain place which was much crowded. She stepped back, and as she did so, the skirt of her robe slipped down and she trod on it. Unable to keep her feet, she tumbled and fell down. The Teacher came up to her and said, “Sister, your body is worn out with old age; at a time not far distant it will suffer dissolution.” So saying, he pronounced the following Stanza,

148. This body is worn out, this nest of disease, this fragile body;
This mass of corruption dissolves; for life ends in death.

  1. Text: N iii. 110-111.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.