Tích Nàng Xí Rí Ma
Sirimāvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 147 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 147)
“Passa cittakataṃ bimbaṃ,
Arukāyaṃ samussitaṃ;
Āturaṃ bahusaṅkappaṃ,
Yassa natthi dhuvaṃ ṭhiti.”
“Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Thế Tôn đã thuyết khi ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), đề cập đến nàng kỹ nữ Sirimā (Xí Rí Ma).
Tương truyền rằng: Nàng Sirimā là nàng kỹ nữ tuyệt sắc của thành Sāvatthī (Vương Xá). Trong một hạ (mùa mưa) đã gây thiệt hại đến nàng Uttarā (Út Tá Ra), là con gái của ông Bá hộ Puṇṇaka (Pun Ná Ká), và là dâu của ông Bá hộ Sumana (Xú Má Ná), rồi sau ăn năn tội lỗi, muốn cho được trong sạch, nàng đã thỉnh Đức Bổn Sư cùng với Tăng chúng đến tại nhà nàng Uttarā thọ lễ Trai Tăng để cho nàng xin sám hối. Ngày ấy, sau khi thọ thực, Đức Thập Lực đã phúc chúc bằng bài kệ nầy:
“Akkodhena jine kodhaṃ
Asādhuṃ sādhunā jine
Jine kadariyaṃ dānena
Saccenālikavādinanti.”
“Lấy Từ thắng nóng giận,
Lấy Thiện thắng ác hung,
Lấy Thí thắng xan tham,
Lấy Chơn thắng hư ngụy.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Nghe dứt bài kệ, nàng Sirimā đắc quả Nhập Lưu.
Trên đây là tóm lược đại ý, câu chuyện được giải rộng rõ ràng hơn trong Chú giải Kệ ngôn số 223, Phẩm Phẫn nộ (Kodhavagga).
Khi chứng đạt Dự Lưu Quả rồi, nàng Sirimā cung thỉnh Đức Thế Tôn cùng chư Tăng vào sáng hôm sau đến thọ đại lễ Trai Tăng và nguyện xin để bát thường xuyên một nhóm Tăng tám vị. Từ đó trở đi, hằng ngày có tám vị Tỳ khưu đi đến nhà nàng:
- Thỉnh các Ngài hãy nhận sữa chua, thỉnh các Ngài thọ sữa tươi v.v… – Nói rồi, nàng chế sữa chua vào đầy bát chư Tăng. Mỗi bát có thể đủ cho cả ba, bốn vị dùng. Hằng ngày, nàng xuất ra mười sáu đồng tiền vàng để cúng dường sớt bát.
Ngày nọ, một vị Tỳ khưu sau khi độ cơm bát dâng đến tám vị nơi nhà của nàng Sirimā, đã đi đến một ngôi chùa cách xa độ ba do tuần. Khi ấy chư Tỳ khưu đang ngồi hầu quanh vị Thượng tọa của mình, hỏi sư:
- Đạo hữu thọ bát ở đâu mà về đây vậy?
- Tôi độ phần cơm của nàng Sirimā để bát đến Tăng tám vị.
- Thí chủ có hoan hỷ dâng cúng không, đạo hữu?
- Thưa các Ngài! Việc dâng cúng của nàng, thật không thể nào tán dương cho xiết. Nàng dâng cúng thực phẩm hoàn toàn, mỗi bát cở sức ba, bốn Tỳ khưu độ cũng đủ. Chẳng những thế thôi, nàng còn tuyệt đẹp và biết cách làm phước để bát một cách khéo léo, duyên dáng hết chỗ chê v.v…
Khi ấy, có một vị Tỳ khưu nghe vị khách Tăng ca tụng ân đức của nàng Sirimā, tuy chưa được thấy mặt nàng mà đã phát tâm luyến ái nàng, nên nói thầm rằng: “Ta phải đi coi mắt nàng mới được!”. Vị ấy bèn bạch xin phép Sư cả của mình rồi hỏi thăm vị khách Tăng về cách thức phân phối thẻ lấy bát.
- Ngày mai đạo hữu vào nhà phát thẻ trước nhất thì ắt sẽ được ở trong nhóm Tăng tám vị.
Nghe vậy, vị ấy lập tức mang theo y bát ra đi. Từ sáng sớm, mặt trời vừa mọc, vị ấy đã vào đứng trong phòng phát thẻ trước tất cả Tăng chúng, nên lấy được số thẻ đi thọ bát ở nhà cô Sirimā trong nhóm Tăng tám vị.
Bữa hôm qua, sau lúc vị Tỳ khưu khách thọ bát rồi ra đi thì cô Sirimā phát bịnh trong mình cho nên nàng cởi hết đồ nữ trang mà nằm nghỉ.
Sáng hôm sau, khi nhóm tỳ nữ trông thấy các Tỳ khưu được cấp thẻ trong nhóm tám vị đi đến thì báo cho cô chủ biết. Nàng không thể tự tay rước bát, thỉnh Tăng an tọa, hoặc thỉnh Tăng vào nhà, nên gọi các tỳ nữ bảo rằng:
- Nầy các em! Các em hãy rước bát và thỉnh Tăng ngồi rồi dâng cháo sáng và bánh ngọt điểm tâm, rồi tới giờ cơm hãy để cơm canh đây mà dâng nhé!
Họ thỉnh Tăng vào nhà, dâng cháo và bánh ngọt điểm tâm, đến giờ cơm, họ để cơm canh đầy bát rồi báo tin cho cô chủ biết. Cô bảo:
- Nầy các em, hãy đỡ ta dậy, dìu ta ra đảnh lễ các Trưởng lão!
Các nữ tỳ đỡ dìu nàng ra gần chư Tăng, nàng lảo đảo quì xuống đảnh lễ các Ngài. Vị Tỳ khưu có tình nhìn nàng rồi nghĩ thầm: “Đang bịnh mà nàng còn sắc đẹp như vậy, huống chi lúc mạnh khỏe đeo đủ đồ trang sức thì có ai mà xinh đẹp bằng nàng?”. Khi ấy, trong tâm của vị Tỳ khưu hằng hà sa số phiền não đồng thời nổi dậy. Vị ấy đâm ra si tình đến nổi không thể độ cơm, bèn mang bát vào chùa, đậy nắp lại cất qua một bên, rồi trải y ra nằm chùi lên giường. Một Tỳ khưu bạn thấy, đến yêu cầu, cố ép vị ấy ăn mà không được. Vị ấy tuyệt thực luôn.
Đến chiều ngày ấy thì nàng Sirimā từ trần. Đức vua Bimbisāra (Bình Sa Vương) gởi thông điệp Đức Bổn Sư: “Bạch Thế Tôn! Cháu gái của ngự y Jīvaka (Kỳ Bá) là nàng Sirimā đã từ trần.”.
Bậc Đạo Sư tiếp được thánh chỉ báo tin liền gởi lời phúc đáp rằng: “Lễ nên thiêu xác nàng Sirimā sẽ không có, xin Đại vương ra lịnh cho đem thi hài của nàng đặt trong bãi tha ma nào đó và cho người gìn giữ đừng để quạ và chó cắn xé, ăn mất xác ấy.”.
Đức vua làm theo chỉ thị của Bậc Đạo Sư. Ba ngày lần lượt trôi qua, đến ngày thứ tư cái tử thi sình lên, nước vàng rịn chảy ra theo chín lổ (cửu khiếu). Trọn cả thi thể nứt nở ra như chén cơm nếp (Sāli).
Đức vua truyền cho người đi đánh trống loan tin khắp thành phố rằng: “Trừ ra trẻ con ở giữ nhà, ai không đi xem tử thi của nàng Sirimā thì phải nộp tiền phạt tám đồng tiền vàng.”. Và Đức vua cũng phái người đến thỉnh chư Tăng có Đức Phật cầm đầu, đến khán thi thể của nàng Sirimā.
Bậc Đạo Sư gọi chư Tăng và bảo:
- Nầy chư Tỳ khưu! Chúng ta sẽ đi thăm viếng nàng Sirimā.
Vị Tỳ khưu trẻ ấy suốt bốn ngày qua, không nghe tin tức chi hết, cứ nằm lỳ tuyệt thực. Phần cơm trong bát của vị ấy đã thiu thúi. Cái bát đã đóng bợn nhơ. Khi ấy, một Tỳ khưu bạn của vị ấy đến báo tin:
- Nầy đạo hữu! Bậc Đạo Sư cùng Tăng chúng sắp đi viếng thăm nàng Sirimā!
Mặc dù đã nhịn đói lã người như vậy, nhưng vừa nghe đến tên nàng Sirimā vị ấy vụt ngồi dậy hỏi:
- Đạo hữu nói gì?
Khi nghe lặp lại rằng: “Đức Bổn Sư đi thăm nàng Sirimā. Chắc đạo hữu cũng đi chớ?”
- Dạ phải! Tôi sẽ đi chứ!
Sau khi đổ cơm, rửa sạch bát, bỏ vào trong cái túi dèm, vị ấy cùng ra đi với chư Tăng. Đến thi lâm, Bậc Đạo Sư có chư Tăng vây quanh đứng ở một lối, chư Tỳ khưu Ni, các quan viên, các Cận sự nam và các Cận sự nữ, mỗi nhóm đều đứng riêng một lối phân biệt nhau.
Bậc Đạo Sư hỏi Đức vua rằng:
- Tâu Đại vương! Nàng ấy là ai vậy?
- Bạch Thế Tôn, đó là cháu gái của ngự y Jīvaka tên là Sirimā.
- Nàng đó là Sirimā ư?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Nếu thế, xin Đại vương cho người cổ động truyền rao khắp kinh thành rằng: “Hãy trả một ngàn đồng vàng mà lấy nàng Sirimā.”
Đức vua làm y theo lời dạy, nhưng chẳng có ai ứng tiếng lên giành: “Để nàng cho tôi!” Cả. Đức vua bèn báo tin cho Bậc Đạo Sư biết:
- Bạch Thế Tôn, không có ai mua cả.
- Nếu thế, xin Đại vương sụt bớt giá!
Đức vua cho người đi cổ động truyền rao rằng: “Hãy trả năm trăm đồng mà lấy nàng đi.”. Nhưng không thấy có ai chịu mua với giá đó cả.
Đức vua lại cho người cổ động đi rao sụt giá lần lần từ hai trăm năm mươi đồng xuống hai trăm, rồi một trăm, năm chục, hai mươi lăm đồng, xuống đến mười đồng, năm đồng, một đồng, nửa đồng, một bạt, một cắc, một xu. Và cuối cùng Đức vua cho đánh trống truyền rao rằng: “Hãy lấy không nàng Sirimā!”, nhưng tuyệt nhiên không một ai ứng tiếng lên giành, nói: “Để tôi, để tôi!” Cả. Đức vua trình cho Đức Bổn Sư biết:
- Bạch Thế Tôn! Dầu cho không cũng chẳng có ai chịu lấy nàng Sirimā cả!
Nhân đó, Đức Bổn Sư dạy chư Tăng rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Các thầy hãy coi đó! Người nữ mà quần chúng đã từng yêu mến đang nằm đây, lúc trước ở thành, người ta phải trả một ngàn đồng vàng mới được gần nàng một ngày, còn bây giờ đây, dầu cho không cũng chẳng có ai thèm lấy. Sắc đẹp có tướng sanh diệt như thế ấy, nầy các Tỳ khưu, hãy suy gẫm về cái tự ngã (xác thân) uế trược nầy vậy!
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Passa cittakataṃ bimbaṃ,
Arukāyaṃ samussitaṃ;
Āturaṃ bahusaṅkappaṃ,
Yassa natthi dhuvaṃ ṭhiti.”
Hãy ngắm xác thân tốt đẹp nầy chỉ là đống xương
lở lói, chồng chất tật bịnh, đã được người ta tưởng là êm ái, trong đó tuyệt đối không có gì trường cửu.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Cittakataṃ: trang sức, trang điểm bằng y phục, vòng hoa, ngọc ngà v.v… để coi cho đẹp mắt.
Bimbaṃ: cái tự ngã được lập thành có đủ mình, đầu, và tay chân.
Arukāyaṃ: nhiều sự đau nhức, do nơi cửu khiếu là chín lỗ trong thân như chín vết thương hằng chảy máu mủ ra, chín lỗ là hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, một miệng, một đường đại, một đường tiểu.
Samussitaṃ: bộ xương người gồm có 300 khúc xương hiệp lại.
Āturaṃ: luôn luôn lúc nào cũng phải lo chăm sóc, nhất là bốn oai nghi, vì xác thân hằng bịnh hoạn.
Bahusaṅkappaṃ: có nhiều sự bận tâm lo nghĩ vì dư luận công chúng.
Yassa natthi dhuvaṃ ṭhiti: sự trường tồn hoặc sự bền vững của thân nầy không có. Chỉ nên nhìn thấy khía cạnh tan vỡ, rã rời, tiêu hoại mà thôi.
Cuối thời Pháp, tám muôn bốn ngàn chúng sanh chứng đắc Pháp nhãn (Tu Đà Hườn đạo), vị Tỳ khưu ấy cũng đắc Tu Đà Hườn quả.
Vương Xá có nàng Xí Rí Ma,
Mặt hoa, da phấn, tợ tiên nga!
Thấy nàng đau yếu, duyên còn thắm,
Một vị Tỳ khưu mến thiết tha!...
Nàng chết bốn ngày, thây đã sình,
Tỳ khưu nằm liệt bởi si tình,
Chợt nghe tiếng gọi, liền chổi dậy,
Đi viếng “người yêu” với đệ huynh.
Than ôi, người đẹp biến đâu rồi?
Đây chỉ còn trơ xác thúi thôi!
Cửu khiếu, giòi bò ra lúc nhúc,
Còn ai muốn lấy vật tanh hôi?...
DỨT TÍCH NÀNG SIRIMĀ
Sirimāvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Passa cittakatanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto sirimaṃ ārabbha kathesi.
Sā kira rājagahe abhirūpā gaṇikā. Ekasmiṃ pana antovasse sumanaseṭṭhiputtassa bhariyāya puṇṇakaseṭṭhissa dhītāya uttarāya nāma upāsikāya aparajjhitvā taṃ pasādetukāmā tassā gehe bhikkhusaṅghena saddhiṃ katabhattakiccaṃ satthāraṃ khamāpetvā taṃ divasaṃ dasabalassa bhattānumodanaṃ sutvā –
“Akkodhena jine kodhaṃ, asādhuṃ sādhunā jine;
Jine kadariyaṃ dānena, saccenālikavādina”nti. (jā. 1.2.2; dha. pa. 223) –
Gāthāpariyosāne sotāpattiphalaṃ pāpuṇi. Ayamettha saṅkhepo, vitthārakathā pana kodhavagge anumodanagāthāvaṇṇanāyameva āvibhavissati. Evaṃ sotāpattiphalaṃ pattā pana sirimā dasabalaṃ nimantetvā punadivase mahādānaṃ datvā saṅghassa aṭṭhakabhattaṃ nibaddhaṃ dāpesi. Ādito paṭṭhāya nibaddhaṃ aṭṭha bhikkhū gehaṃ gacchanti. “Sappiṃ gaṇhatha, khīraṃ gaṇhathā”tiādīni vatvā tesaṃ patte pūreti. Ekena laddhaṃ tiṇṇampi catunnampi pahoti. Devasikaṃ soḷasakahāpaṇaparibbayena piṇḍapāto dīyati. Athekadivasaṃ eko bhikkhu tassā gehe aṭṭhakabhattaṃ bhuñjitvā tiyojanamatthake ekaṃ vihāraṃ agamāsi. Atha naṃ sāyaṃ therupaṭṭhāne nisinnaṃ pucchiṃsu – “āvuso, kahaṃ bhikkhaṃ gahetvā āgatosī”ti. Sirimāya aṭṭhakabhattaṃ me bhuttanti. Manāpaṃ katvā deti, āvusoti. “Na sakkā tassā bhattaṃ vaṇṇetuṃ, ativiya paṇītaṃ katvā deti, ekena laddhaṃ tiṇṇampi catunnampi pahoti, tassā pana deyyadhammatopi dassanameva uttaritaraṃ. Sā hi itthī evarūpā ca evarūpā cā”ti tassā guṇe vaṇṇesi.
Atheko bhikkhu tassā guṇakathaṃ sutvā adassaneneva sinehaṃ uppādetvā “mayā gantvā taṃ daṭṭhuṃ vaṭṭatī”ti attano vassaggaṃ kathetvā taṃ bhikkhuṃ ṭhitikaṃ pucchitvā “sve, āvuso, tasmiṃ gehe tvaṃ saṅghatthero hutvā aṭṭhakabhattaṃ labhissasī”ti sutvā taṅkhaṇaññeva pattacīvaraṃ ādāya pakkantopi pātova aruṇe uggate salākaggaṃ pavisitvā ṭhito saṅghatthero hutvā tassā gehe aṭṭhakabhattaṃ labhi. Yo pana bhikkhu hiyyo bhuñjitvā pakkāmi, tassa gatavelāyameva assā sarīre rogo uppajji. Tasmā sā ābharaṇāni omuñcitvā nipajji. Athassā dāsiyo aṭṭhakabhattaṃ labhitvā āgate bhikkhū disvā ārocesuṃ. Sā sahatthā patte gahetvā nisīdāpetuṃ vā parivisituṃ vā asakkontī dāsiyo āṇāpesi – “ammā patte gahetvā, ayye, nisīdāpetvā yāguṃ pāyetvā khajjakaṃ datvā bhattavelāya patte pūretvā dethā”ti. Tā “sādhu, ayye”ti bhikkhū pavesetvā yāguṃ pāyetvā khajjakaṃ datvā bhattavelāya bhattassa patte pūretvā tassā ārocayiṃsu. Sā “maṃ pariggahetvā netha, ayye, vandissāmī”ti vatvā tāhi pariggahetvā bhikkhūnaṃ santikaṃ nītā vedhamānena sarīrena bhikkhū vandi. So bhikkhu taṃ oloketvā cintesi – “gilānāya tāva evarūpā ayaṃ etissā rūpasobhā, arogakāle pana sabbābharaṇapaṭimaṇḍitāya imissā kīdisī rūpasampattī”ti. Athassa anekavassakoṭisannicito kileso samudācari, so aññāṇī hutvā bhattaṃ bhuñjituṃ asakkonto pattamādāya vihāraṃ gantvā pattaṃ pidhāya ekamante ṭhapetvā cīvaraṃ pattharitvā nipajji.
Atha naṃ eko sahāyako bhikkhu yācantopi bhojetuṃ nāsakkhi. So chinnabhatto ahosi. Taṃ divasameva sāyanhasamaye sirimā kālamakāsi. Rājā satthu sāsanaṃ pesesi – “bhante, jīvakassa kaniṭṭhabhaginī, sirimā, kālamakāsī”ti. Satthā taṃ sutvā rañño sāsanaṃ pahiṇi “sirimāya jhāpanakiccaṃ natthi, āmakasusāne taṃ yathā kākasunakhādayo na khādanti, tathā nipajjāpetvā rakkhāpethā”ti. Rājāpi tathā akāsi. Paṭipāṭiyā tayo divasā atikkantā, catutthe divase sarīraṃ uddhumāyi, navahi vaṇamukhehi puḷavā pagghariṃsu, sakalasarīraṃ bhinnaṃ sālibhattacāṭi viya ahosi. Rājā nagare bheriṃ carāpesi – “ṭhapetvā geharakkhake dārake sirimāya dassanatthaṃ anāgacchantānaṃ aṭṭha kahāpaṇāni daṇḍo”ti. Satthu santi kañca pesesi – “buddhappamukho kira bhikkhusaṅgho sirimāya dassanatthaṃ āgacchatū”ti. Satthā bhikkhūnaṃ ārocesi – “sirimāya dassanatthaṃ gamissāmā”ti. Sopi daharabhikkhu cattāro divase kassaci vacanaṃ aggahetvā chinnabhattova nipajji. Patte bhattaṃ pūtikaṃ jātaṃ, patte malaṃ uṭṭhahi. Atha naṃ so sahāyako bhikkhu upasaṅkamitvā, “āvuso, satthā sirimāya dassanatthaṃ gacchatī”ti āha. So tathā chātajjhattopi “sirimā”ti vuttapadeyeva sahasā uṭṭhahitvā “kiṃ bhaṇasī”ti āha. “Satthā sirimaṃ daṭṭhuṃ gacchati, tvampi gamissasī”ti vutte, “āma, gamissāmī”ti bhattaṃ chaḍḍetvā pattaṃ dhovitvā thavikāya pakkhipitvā bhikkhusaṅghena saddhiṃ agamāsi. Satthā bhikkhusaṅghaparivuto ekapasse aṭṭhāsi, bhikkhunisaṅghopi rājaparisāpi upāsakaparisāpi upāsikāparisāpi ekekapasse aṭṭhaṃsu.
Satthā rājānaṃ pucchi – “kā esā, mahārājo”ti. Bhante, jīvakassa bhaginī, sirimā, nāmāti. Sirimā, esāti. Āma, bhanteti. Tena hi nagare bheriṃ carāpehi “sahassaṃ datvā sirimaṃ gaṇhantū”ti. Rājā tathā kāresi. Ekopi ‘ha’nti vā ‘hu’nti vā vadanto nāma nāhosi. Rājā satthu ārocesi – “na gaṇhanti, bhante”ti. Tena hi, mahārāja, agghaṃ ohārehīti. Rājā “pañcasatāni datvā gaṇhantū”ti bheriṃ carāpetvā kañci gaṇhanakaṃ adisvā “aḍḍhateyyāni satāni, dve satāni, sataṃ, paṇṇāsaṃ, pañcavīsati kahāpaṇe, dasa kahāpaṇe, pañca kahāpaṇe, ekaṃ kahāpaṇaṃ aḍḍhaṃ, pādaṃ, māsakaṃ, kākaṇikaṃ datvā sirimaṃ gaṇhantū”ti bheriṃ carāpesi. Koci taṃ na icchi. “Mudhāpi gaṇhantū”ti bheriṃ carāpesi. ‘Ha’nti vā ‘hu’nti vā vadanto nāma nāhosi. Rājā “mudhāpi, bhante, gaṇhanto nāma natthī”ti āha. Satthā “passatha, bhikkhave, mahājanassa piyaṃ mātugāmaṃ, imasmiṃyeva nagare sahassaṃ datvā pubbe ekadivasaṃ labhiṃsu, idāni mudhā gaṇhantopi natthi, evarūpaṃ nāma rūpaṃ khayavayappattaṃ, passatha, bhikkhave, āturaṃ attabhāva”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Passa cittakataṃ bimbaṃ, arukāyaṃ samussitaṃ;
Āturaṃ bahusaṅkappaṃ, yassa natthi dhuvaṃ ṭhitī”ti.
Tattha cittakatanti katacittaṃ, vatthābharaṇamālālattakādīhi vicittanti attho. Bimbanti dīghādiyuttaṭṭhānesu dīghādīhi aṅgapaccaṅgehi saṇṭhitaṃ attabhāvaṃ. Arukāyanti navannaṃ vaṇamukhānaṃ vasena arubhūtaṃ kāyaṃ. Samussitanti tīhi aṭṭhisatehi samussitaṃ. Āturanti sabbakālaṃ iriyāpathādīhi pariharitabbatāya niccagilānaṃ. Bahusaṅkappanti mahājanena bahudhā saṅkappitaṃ. Yassa natthi dhuvaṃ ṭhitīti yassa dhuvabhāvo vā ṭhitibhāvo vā natthi, ekantena bhedanavikiraṇaviddhaṃsanadhammamevetaṃ, imaṃ passathāti attho.
Desanāvasāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosi, sopi bhikkhu sotāpattiphale patiṭṭhahīti.
Sirimāvatthu dutiyaṃ.
XI. 2. The Teacher Cures A Monk of Love
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
147. See this painted image, this mass of sores, huddled together,
Corrupt, once possessed of many thoughts, but now possessing neither strength nor stability.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Sirimā.
Sirimā, the story goes, was a very beautiful courtezan of Rājagaha who had during a certain rainy season offended against the female lay disciple Uttarā, wife of the treasurer’s son Sumana and daughter of the treasurer Puṇṇaka. Desiring to be on good terms with her again, she went to her house when the Teacher and the Congregation of Monks were within, and after the Teacher had finished his meal, asked him for pardon. Now on that day He that is Possessed of the Ten Forces pronounced within the hearing of Sirimā the following words of thanksgiving,
223. One should overcome anger with kindness, one should overcome evil with good,
One should overcome the niggard with gifts, and the speaker of falsehood with truth.
At the conclusion of the Stanza Sirimā obtained the Fruit of Conversion. (This is a brief synopsis of the story; as for the complete story, it will be found related at length in the Commentary on the Stanza of Thanksgiving in the Kodha Vagga.)
Having thus attained the Fruit of Conversion, Sirimā invited the Possessor of the Ten Forces to be her guest, and on the following day presented rich offerings. From that time on she gave regularly the Eight Ticket-foods, and from that time on eight monks came regularly to her house. “Accept ghee, accept milk,” she would say, filling their bowls; what she gave to one monk would have sufficed for three or four; every day sixteen pieces of money were expended on the alms which were presented to the monks who visited her house.
Now one day a certain monk who had eaten the Eight Ticket-foods in her house went a journey of three leagues and stopped at a certain monastery. In the evening, as he sat in the monastery, the monks asked him, “Brother, where did you obtain food just before you came here?” “I have just eaten Sirimā’s Eight Ticket-foods.” “Is the food which she gives pleasing to the taste, brother?” “It is impossible to describe her food; it is the choicest of choice food that she gives. But a single portion would suffice even for three or four. But good as her food is, she herself is still more pleasing to look upon; such and such are the marks of beauty which she possesses.” Thus did the monk describe her good qualities.
A certain monk heard the visiting monk describe her good qualities, and in spite of the fact that he had never seen her, nevertheless fell in love with her. Said he to himself, “I ought to go see her.” So announcing that he was about to enter upon residence, he asked the monk who lived by her alms some questions. The visiting monk replied, “To-morrow, brother, remain in that house, assume the post of Elder of the Assembly, and you will receive the Eight Ticket-foods.” The monk immediately took bowl and robe and went out early in the morning, as the dawn rose, he entered the Ticket-hall, assumed the post of Elder of the Assembly, and received the Eight Ticket-foods in the woman’s house.
Now it so happened that on the day before, just as the monk who had received food in her house went out, the female lay disciple became afflicted with a disease, and therefore removed her jewels and lay down. When the monks came to receive the Eight Ticket-foods, her female slaves, seeing them, informed their mistress. Since she was unable to take their bowls in her own hands, provide them with seats, and wait upon them, she gave orders to her slaves, saying, “Women, take the bowls and provide the noble monks with seats; give them broth to drink and hard food to eat. When it is time to present boiled rice, fill their bowls and give them to the monks.” “Very well, noble lady,” replied the slaves. So they invited the monks within, gave them broth to drink and hard food to eat; and when it was time to present boiled rice, they filled their bowls and gave them to the monks. When they had so done, they went and informed their mistress. She said, “Take me and carry me with you, that I may pay my respects to the noble monks.” So they took her and carried her with them; and when they brought her into the presence of the monks, she paid obeisance to them, her body all of a tremble.
When that monk looked upon her, he thought to himself, “Even in sickness this woman possesses wonderful beauty. What manner of beauty must she not possess when she is well and strong and adorned with all her adornments?” Thereupon human passion, accumulated during many millions of years, arose within him. He became indifferent to all about him and was unable to take food. He took his bowl and went back to the monastery; covering his bowl, he put it away; then he lay down, spreading out the skirt of his robe. A certain monk who was a companion of his tried to persuade him to eat, but without success, for he refused absolutely to take food.
On that very day in the evening Sirimā died. Thereupon the king sent word to the Teacher, “Reverend Sir, Jīvaka’s youngest sister Sirimā is dead.” When the Teacher received that message, he sent back the following message to the king, “Sirimā’s body should not be burned. Have her body laid in the burning-ground, and set a watch, that crows and dogs may not devour it.” The king did so. Three days passed, one after another. On the fourth day the body began to bloat, and from the nine openings of her body, which were like to sores, there oozed forth maggots. Her whole body looked like a cracked vessel of boiled rice.
The king caused a drum to go through the city and the following proclamation to be made, “Let all approach to behold Sirimā. Except watchmen of houses, all who refuse to do so shall be fined eight pieces of money.” And he sent the following message to the Teacher, “Let the Congregation of Monks presided over by the Buddha approach to behold Sirimā.” The Teacher made proclamation to the monks, “Let us go forth to behold Sirimā.”
Now that young monk had lain for four days without touching food, paying no attention to anything anyone said to him; the rice in his bowl had rotted, and his bowl was covered with mildew. The rest of the monks who were his fellows approached him and said to him, “Brother, the Teacher is going forth to behold Sirimā.” When the young monk, lying thus, heard the name Sirimā, he leaped quickly to his feet. Someone said to him, “The Teacher is going forth to behold Sirimā; will you also go?” “Indeed I will go,” he replied. And tossing the rice out of his bowl, he washed it and put it in his net and then set out with the company of monks.
The Teacher surrounded by the Congregation of Monks stood on one side of the corpse; the Congregation of Nuns and the king’s retinue and the company of lay disciples, both male and female, stood on the other side of the corpse, each company in its proper place. The Teacher then asked the king, “Great king, who is this woman?” “Reverend Sir, it is Jīvaka’s sister Sirimā.” “Is this Sirimā?” “Yes, Reverend Sir.” “Well! send a drum through the town and make proclamation, ‘Those who will pay a thousand pieces of money for Sirimā may have her.’ ” Not a man said “hem” or “hum.” The king informed the Teacher, “They will not take her, Reverend Sir.” “Well then, great king, put the price down.” So the king had a drum beaten and the following proclamation made, “If they will give five hundred pieces of money, they may have her.” But nobody would take her at that price. The king then proclaimed to the beating of a drum that anyone might have her who would give two hundred and fifty pieces of money, or two hundred, or a hundred, or fifty, or twenty-five, or ten, or five. Finally he reduced the price to a penny, then to a half-penny, then to a quarter of a penny, then to an eighth of a penny. At last he proclaimed to the beating of a drum, “They may have her for nothing.” Not a man said “hem” or “hum.” Then said the king to the Teacher, “Reverend Sir, no one will take her, even as a gift.” The Teacher replied, “Monks, you see the value of a woman in the eyes of the multitude. In this very city men used to pay a thousand pieces of money for the privilege of spending one night with this woman. Now there is no one who will take her as a gift. Such was her beauty who now has perished and gone. Behold, monks, this body diseased and corrupt.” So saying, he pronounced the following Stanza,
147. See this painted image, this mass of sores, huddled together,
Corrupt, once possessed of many thoughts, but now possessing neither strength nor stability.
- From this story is derived Vimāna-Vatthu Commentary, i. 16: 74-78. Vv. cm. 7504-7728 is almost word for word the same as Dh. cm. iii. 10418-10906. This story is referred to at Milindapañha, 35013. See Cunningham’s Stūpa of Bhārhut Plate xxiii. 1. Text: N iii. 104-109.
- Story xvii. 3.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.