Bảy giác chi: bảy yếu tố đưa tâm đến giác ngộ
Bảy giác chi là bảy phẩm chất mà Đức Phật gọi là những yếu tố của giác ngộ. Cả một tương ưng trong Tương Ưng Bộ được dành cho chúng. Điều thú vị là kinh không chỉ liệt kê, mà còn dạy dùng giác chi nào vào lúc nào, như người giữ lửa biết lúc nào thêm củi khô.
Bảy giác chi là gì
Chữ sambojjhaṅga nghĩa là “chi phần của giác ngộ”. Bảy chi là:
- Niệm (sati): nhớ và có mặt với điều đang xảy ra.
- Trạch pháp (dhammavicaya): dùng trí tuệ xem xét các pháp, phân biệt thiện và bất thiện.
- Tinh tấn (vīriya): sự nỗ lực không chùn bước.
- Hỷ (pīti): niềm vui không thuộc về dục lạc.
- Khinh an (passaddhi): thân và tâm lắng dịu.
- Định (samādhi): tâm hợp nhất, an trú.
- Xả (upekkhā): sự quân bình, nhìn mà không nghiêng ngả.
Bảy bậc nối tiếp
Tương Ưng Bộ 46.3 mô tả thứ tự rất tự nhiên. Một vị Tỷ-kheo nghe Pháp từ những vị đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến, rồi sống viễn ly và nhớ lại lời dạy ấy: đó là niệm giác chi. Sống với niệm như vậy, vị ấy dùng trí tuệ xem xét pháp ấy: trạch pháp giác chi. Khi xem xét như vậy, tinh tấn được khơi dậy, không chùn: tinh tấn giác chi. Người tinh tấn thì “hỷ không thuộc về dục lạc sinh khởi”: hỷ giác chi. Tâm có hỷ thì “thân cũng lắng dịu, tâm cũng lắng dịu”: khinh an giác chi. Thân lắng dịu, an lạc, thì tâm được định. Rồi vị ấy khéo nhìn tâm đã định ấy với sự quân bình: xả giác chi (SN 46.3, đoạn 1.8–8.1).
Kinh Nhập Tức Xuất Tức đặt bảy giác chi vào một chuỗi lớn hơn: niệm hơi thở làm viên mãn bốn niệm xứ, “bốn niệm xứ, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn bảy giác chi”, và “bảy giác chi… làm viên mãn minh và giải thoát” (MN 118, đoạn 15.3–15.4). Mỗi giác chi được tu “y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ” (đoạn 42.1–42.7).
Giác chi nào cho lúc nào
Tương Ưng Bộ 46.53 có một ví dụ rất đời. Khi tâm uể oải mà ta tu khinh an, định, xả thì giống như muốn nhóm một đốm lửa nhỏ mà lại bỏ cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt lên, tưới nước, rắc đất: lửa không thể bùng lên (đoạn 4.1–6.3). Lúc ấy nên tu trạch pháp, tinh tấn, hỷ, như bỏ cỏ khô, củi khô và thổi vào (đoạn 7.1–9.3). Ngược lại, khi tâm dao động, muốn dập một đám lửa lớn thì phải dùng cỏ ướt, nước và đất: đó là khinh an, định, xả (đoạn 10.1–15.3). Và kinh kết:
Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp.
Tương Ưng Bộ 46.53, đoạn 15.4
Trong Kinh Niệm Xứ và Kinh Tất Cả Lậu Hoặc
Kinh Niệm Xứ dạy quán bảy giác chi như một phần của quán pháp: “khi trong tâm có niệm giác chi, vị Tỷ-kheo biết: trong tôi có niệm giác chi”, biết khi nó không có, biết nó chưa sinh do đâu mà sinh, và đã sinh được tu tập viên mãn thế nào (MN 10, đoạn 42.3). Kinh Tất Cả Lậu Hoặc xếp việc tu bảy giác chi vào nhóm những lậu hoặc được đoạn trừ nhờ tu tập (Trung Bộ 2, đoạn 21.2–21.8). Trong Vi Diệu Pháp, khinh an, niệm, tinh tấn và xả đều có tên trong 52 tâm sở; hôn trầm và trạo cử mà các giác chi cân bằng cũng là tâm sở bất thiện.
Một ví dụ đời thường
Đầu giờ chiều, sau bữa trưa, bạn ngồi thiền mà đầu cứ gục. Lúc đó cố gắng “buông lỏng, an tịnh” chỉ làm buồn ngủ thêm. Hãy làm như người nhóm lửa: mở mắt, ngồi thẳng, chú ý kỹ hơn vào chi tiết hơi thở (trạch pháp), khơi chút nỗ lực (tinh tấn), nhớ lại một điều khiến mình vui khi tu tập (hỷ). Còn tối trước hạn chót công việc, đầu óc chạy loạn, thì ngược lại: thở chậm, để thân dịu xuống (khinh an), trở về một đối tượng (định), nhìn mọi chuyện với chút khoảng cách (xả).
Một gợi ý nhỏ
Trước khi ngồi thiền hoặc trước một việc quan trọng, bạn thử hỏi: lúc này tâm mình đang uể oải hay đang dao động? Chỉ một câu hỏi ấy đã là niệm, và từ đó bạn biết cần thêm củi khô hay cần một chút nước. Đó là cách bảy giác chi đi vào đời sống hằng ngày. Nếu mới tập, bài thiền cho người mới bắt đầu là điểm khởi đầu nhẹ nhàng.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 46.3, Kinh Giới (Sīla Sutta), SN 46.3 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 46.53, Kinh Lửa (Aggi Sutta), SN 46.53 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 118, Kinh Nhập Tức Xuất Tức, MN 118 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 10, Kinh Niệm Xứ, MN 10 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 2, Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, MN 2 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.