Năm căn và năm lực: tín, tấn, niệm, định, tuệ
Tín, tấn, niệm, định, tuệ: năm chữ ấy xuất hiện hai lần trong 37 phẩm trợ đạo, một lần với tên “căn”, một lần với tên “lực”. Bài này đọc lại định nghĩa của từng pháp trong kinh, giải thích vì sao có hai tên, và vì sao năm pháp cần đi cùng nhau cho quân bình.
Năm căn được định nghĩa thế nào
Tương Ưng Bộ 48.10 trả lời từng câu “thế nào là…” (đoạn 1.4–5.4):
- Tín căn (saddhindriya): vị Thánh đệ tử có niềm tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai: “Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đầy đủ trí tuệ và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc điều ngự vô thượng những người cần được điều phục, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn” (đoạn 1.5–1.6).
- Tấn căn (vīriyindriya): sống tinh cần để đoạn trừ bất thiện, thành tựu thiện, kiên trì, không bỏ gánh nặng trong các thiện pháp; cụ thể là bốn chánh cần (đoạn 2.2–2.6). Xem bài Tứ chánh cần.
- Niệm căn (satindriya): có niệm, nhớ được điều đã làm, đã nói từ lâu; cụ thể là bốn niệm xứ (đoạn 3.2–3.6). Xem bài Tứ niệm xứ.
- Định căn (samādhindriya): lấy sự buông bỏ làm đối tượng mà đạt định, đạt nhất tâm; cụ thể là bốn thiền (đoạn 4.2–4.6). Xem bài Bốn thiền sắc giới.
- Tuệ căn (paññindriya): có trí tuệ thấy sự sinh và diệt, cao thượng, thấu suốt, đưa đến chấm dứt khổ; biết như thật “đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ, đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ” (đoạn 5.2–5.3).
Cách định nghĩa này cho thấy 37 phẩm trợ đạo đan vào nhau: tấn căn chứa bốn chánh cần, niệm căn chứa bốn niệm xứ, tuệ căn chứa Bốn Thánh đế mà Kinh Chuyển Pháp Luân giảng lần đầu.
Căn và lực: một dòng sông, hai cách đếm
Ở thành Sāketa, Đức Phật hỏi các Tỷ-kheo: có cách nhìn nào mà năm căn là năm lực, năm lực là năm căn không? Các Tỷ-kheo thỉnh Ngài giảng, và Ngài đáp: có. Tín căn là tín lực, tín lực là tín căn; và cũng vậy với tấn, niệm, định, tuệ (SN 48.43, đoạn 1.4–4.6). Ngài đưa ví dụ: một dòng sông chảy về phía đông, giữa sông có một hòn đảo. Nếu tính nước ở phía đông và phía tây hòn đảo, dòng sông là một dòng; nếu tính nước ở phía bắc và phía nam, dòng sông là hai dòng (đoạn 4.7–6.3).
Kinh không giải thích thêm vì sao có hai tên. Theo cách hiểu phổ biến của chú giải, năm pháp được gọi là “căn” vì chúng làm chủ trong lĩnh vực của mình (tín làm chủ sự quyết tin, niệm làm chủ sự ghi nhận…), và gọi là “lực” khi chúng đã vững, không bị pháp đối nghịch (bất tín, biếng nhác, thất niệm, tán loạn, vô minh) lay chuyển. Tương Ưng Bộ chương 50 nói người tu tập năm lực nghiêng về Niết-bàn như sông Hằng nghiêng về phía đông (SN 50.1–12, đoạn 1.5–1.6).
Giữ năm căn quân bình
Tôn giả Soṇa tinh tấn bậc nhất mà tâm chưa giải thoát, đã nghĩ đến chuyện hoàn tục. Đức Phật nhắc ví dụ dây đàn, rồi dạy: “Hãy giữ tinh tấn cho quân bình, hãy thấu hiểu sự quân bình của các căn” (Tăng Chi Bộ 6.55, đoạn 7.1–7.2). Nhờ vậy, ít lâu sau Tôn giả chứng A-la-hán (đoạn 8.1–8.4).
Thanh Tịnh Đạo (chương 4), bộ luận của Ngài Phật Âm (Buddhaghosa), triển khai lời dạy này. Theo sách ấy, cần đặc biệt quân bình tín với tuệ, và định với tấn. Người tín mạnh mà tuệ yếu thì dễ tin nhầm chỗ không đáng tin; người tuệ mạnh mà tín yếu thì nghiêng về lý sự, khó chữa như bệnh sinh ra từ chính thuốc. Định mạnh mà tấn yếu thì dễ rơi vào biếng nhác; tấn mạnh mà định yếu thì dễ rơi vào trạo cử. Còn niệm thì lúc nào cũng cần mạnh, như muối cần cho mọi món ăn. Đây là lời chú giải, nhưng rất gần kinh nghiệm của người tu.
Thử hình dung
Thử hình dung hai người bạn cùng đi chùa. Cô Thảo rất có lòng tin, ai nói gì về bùa linh, ngày tốt cũng nghe, vì “ở chùa mà”. Anh Phong đọc rất nhiều sách, bàn lý giỏi, nhưng chưa bao giờ ngồi thiền quá năm phút vì “chưa thấy chứng cứ”. Cô Thảo cần thêm tuệ để niềm tin đặt đúng chỗ; anh Phong cần thêm tín để dám thực hành mà kiểm chứng. Cả hai đều cần niệm để thấy mình đang lệch về phía nào.
Một gợi ý nhỏ
Cuối tuần, bạn thử tự hỏi năm câu: niềm tin của mình đặt vào đâu, mình có đều đặn không, mình có nhớ giữ chánh niệm không, tâm mình có lắng được chút nào không, mình có hiểu thêm điều gì về khổ không. Căn nào yếu, hãy chăm căn ấy một chút, và nếu được, hãy hỏi thêm một vị thầy hay một người bạn lành đi trước.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 48.10, Kinh Phân Tích thứ hai (Dutiyavibhaṅga Sutta), SN 48.10 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 48.43, Kinh Sāketa (Sāketa Sutta), SN 48.43 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 50.1–12, phẩm sông Hằng của Tương Ưng Lực, SN 50.1–12 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 6.55, Kinh Soṇa (Soṇa Sutta), AN 6.55 trên SuttaCentral.
- Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), chương 4, phần quân bình các căn (tác phẩm hậu kinh điển).
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.