Giáo lý chuyên sâu

Tứ như ý túc: bốn nền tảng của thành tựu theo Tương Ưng Bộ

Trong 37 phẩm trợ đạo, bốn như ý túc là nhóm ít được nói đến nhất, có lẽ vì chữ “như ý” gợi đến thần thông. Thật ra kinh dùng nhóm pháp này để dạy một điều rất thực tế: làm sao để tâm có đủ sức đi trọn con đường.

Tóm lại: Như ý túc (iddhipāda), nghĩa đen là “nền tảng của thành tựu”, gồm bốn loại định: định nhờ ý muốn, nhờ tinh tấn, nhờ tâm, nhờ thẩm sát, mỗi loại đi kèm bốn chánh cần (SN 51.13). Tương Ưng Bộ 51.20 dạy cách tu: không chùng, không căng, không co rút, không tán loạn, tu tập một tâm tràn đầy ánh sáng, ngày cũng như đêm. Kết quả có thể là thần thông, nhưng điều kinh đặt lên cao nhất là sự diệt tận lậu hoặc.

Bốn nền tảng, mỗi nền là một loại định

Tương Ưng Bộ 51.13 định nghĩa rất gọn:

Những pháp này được gọi là tinh cần hành. Như vậy, đây là dục, đây là dục định, và những pháp này là tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành. Nếu Tỷ-kheo nương tựa tinh tấn, này các Tỷ-kheo, được định, được nhất tâm, đây gọi là tinh tấn định. Đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh …

Tương Ưng Bộ 51.13, đoạn 1.1–1.9

Ba nền tảng còn lại theo cùng khuôn ấy: nương vào tinh tấn (vīriya), nương vào tâm (citta), nương vào thẩm sát (vīmaṁsā) mà đạt định (đoạn 2.1–4.7). Như vậy, mỗi như ý túc là một sự kết hợp: một phẩm chất dẫn đầu, sự định tâm mà phẩm chất ấy đem lại, và bốn chánh cần đi kèm. Bài Tứ chánh cần nói rõ phần sau.

Dùng ý muốn để buông ý muốn

Tương Ưng Bộ 51.15 ghi lại một cuộc đối đáp thú vị. Bà-la-môn Uṇṇābha hỏi Ngài A-nan (Ānanda): sống phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama để làm gì? Ngài A-nan đáp: để đoạn trừ ý muốn. Con đường ấy là gì? Là tu tập bốn như ý túc. Uṇṇābha phản bác: thế thì con đường không có điểm dừng, vì không thể lấy ý muốn để bỏ ý muốn (đoạn 1.5–4.2).

Ngài A-nan hỏi lại: trước khi ông đi đến khu vườn, ông có ý muốn đi không? Khi đã đến nơi, ý muốn ấy có lắng xuống không? Tinh tấn, tâm, sự thẩm sát để đi đến vườn cũng vậy. Bậc A-la-hán cũng thế: ý muốn đạt đến giải thoát, khi đã đạt thì lắng xuống (đoạn 4.3–5.4). Uṇṇābha hoan hỉ xin quy y. Bài kinh cho thấy ý muốn hướng thiện không phải là tham ái cần sợ; nó là chiếc xe đưa ta đến nơi rồi tự dừng.

Không chùng, không căng, không co, không tán

Tương Ưng Bộ 51.20 dạy cách tu từng như ý túc: vị Tỷ-kheo nghĩ “ý muốn của ta sẽ không quá chùng, không quá căng, không co rút bên trong, không tán loạn bên ngoài” (đoạn 2.3). Kinh giải thích: quá chùng là đi kèm biếng nhác; quá căng là đi kèm trạo cử; co rút bên trong là đi kèm hôn trầm, buồn ngủ; tán loạn bên ngoài là chạy theo năm dục (đoạn 3.1–6.3). Vị ấy sống “trước sao sau vậy, dưới sao trên vậy, ngày sao đêm vậy”, và “với tâm rộng mở, không bị che phủ, tu tập một tâm tràn đầy ánh sáng” (đoạn 2.4–2.8). Tâm ấy có được nhờ khéo nắm giữ tưởng ánh sáng, tưởng ban ngày (đoạn 10.2), cùng một cách diễn đạt với lối tu tập định đưa đến tri kiến trong Tăng Chi Bộ 4.41 (đoạn 3.2–3.4).

Còn thần thông thì sao

Kinh không giấu: khi bốn như ý túc được tu tập như vậy, vị Tỷ-kheo có thể chứng nhiều loại thần thông (SN 51.20, đoạn 24.1). Nhưng câu kế tiếp mới là đích: vị ấy, do diệt tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này (đoạn 24.2). Trong Kinh Kevaṭṭa, Đức Phật nói Ngài thấy nguy hại trong phép lạ thần thông và phép lạ đọc tâm, nên chán ghét chúng (Trường Bộ 11, đoạn 5.7, 7.8); phép lạ Ngài đề cao là phép lạ giáo huấn, khi vị Tỷ-kheo dạy người: “Hãy suy nghĩ như thế này, đừng suy nghĩ như thế kia… hãy bỏ điều này, hãy chứng và trú điều kia” (đoạn 8.1–8.3). Bài này không bàn cách luyện thần thông, và bạn cũng không nên tìm cách luyện thần thông từ sách vở.

Thử hình dung

Thử hình dung chị Ngân, bốn mươi tuổi, quyết định học thuộc Kinh Từ Bi bằng tiếng Pāli. Chị thật lòng muốn (ý muốn); chị đều đặn tập mỗi tối (tinh tấn); chị dồn tâm vào việc ấy, không vừa học vừa xem phim (tâm); chị tự xét cách nào nhớ tốt, chỗ nào hay quên (thẩm sát). Đây chỉ là một ví dụ đời thường để thấy bốn phẩm chất này làm việc cùng nhau; trong kinh, chúng là nền tảng của định trên con đường giải thoát.

Một gợi ý nhỏ

Khi bạn thấy việc tu tập của mình chững lại, hãy hỏi bốn câu: mình còn thật lòng muốn không, mình có đều đặn không, tâm mình có đặt vào đó không, mình có xem lại cách làm không. Phẩm chất nào yếu, hãy chăm phẩm chất ấy. Với những pháp tu định sâu, hãy học với một vị thầy có kinh nghiệm.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 51.13, Kinh Định Do Ý Muốn (Chandasamādhi Sutta), SN 51.13 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 51.15, Kinh Bà-la-môn Uṇṇābha (Uṇṇābhabrāhmaṇa Sutta), SN 51.15 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 51.20, Kinh Phân Tích (Vibhaṅga Sutta), SN 51.20 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 4.41, Kinh Tu Tập Định (Samādhibhāvanā Sutta), AN 4.41 trên SuttaCentral.
  5. Trường Bộ 11, Kinh Kevaṭṭa (Kevaṭṭa Sutta), DN 11 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  7. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Đọc nguyên văn bài kinh