Nhân vật, nơi chốn

Bốn thánh tích: bốn nơi Đức Phật dạy nên đến chiêm bái

Khi chuẩn bị một chuyến hành hương Ấn Độ và Nepal, nhiều người hỏi nên đến đâu trước. Chính Đức Phật, trong những ngày cuối đời, đã nói đến bốn nơi đáng chiêm bái.

Tóm lại: Trong Trường Bộ 16, Đức Phật nói với Tôn giả A-nan về bốn nơi đáng chiêm bái, khơi dậy sự xúc động tâm linh: nơi đản sinh, nơi giác ngộ, nơi chuyển Pháp luân, nơi nhập Niết-bàn. Ngày nay đó là Lumbini ở Nepal, và Bodh Gaya, Sarnath, Kushinagar ở Ấn Độ.

Lời dạy trong những ngày cuối

Kinh Đại Bát Niết-bàn ghi lại những ngày cuối của Đức Phật. Ở Câu-thi-na, Ngài nói với Tôn giả A-nan (Ānanda):

Này Ānanda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Đây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, “Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”.

Trường Bộ 16, đoạn 5.8.1–5.8.6

Chữ Pāli saṁvejanīya nghĩa là nơi làm khởi lên sự xúc động sâu xa (saṁvega), cái rùng mình khi chợt thấy rõ sự quý hiếm của Pháp và sự ngắn ngủi của đời người. Kinh nói Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ có niềm tin sẽ đến những nơi ấy, và ai mệnh chung với tâm thanh tịnh trong lúc đi chiêm bái các tháp miếu sẽ sinh về cõi lành (đoạn 5.8.8–5.8.10).

Đoạn kinh này không ghi tên từng nơi. Tên các nơi ấy có trong những bài kinh khác, như sau.

1. Lâm-tỳ-ni, nơi đản sinh (Lumbini, Nepal)

Kinh Tập 3.11 kể chư thiên hoan hỉ báo tin: vị Bồ-tát, viên ngọc vô song, đã sinh ra ở cõi người vì lợi ích và an vui, “tại làng của dòng Sakya, xứ Lumbinī” (Snp 3.11, kệ 5). Ngày nay Lâm-tỳ-ni (Lumbinī) thuộc huyện Rupandehi, miền nam Nepal, gần biên giới Ấn Độ. Tại đây còn trụ đá do vua A-dục (Asoka) dựng, có khắc dòng chữ ghi nơi này là chỗ Đức Phật đản sinh, cùng đền Maya Devi.

2. Bồ-đề Đạo Tràng, nơi giác ngộ (Bodh Gaya, Ấn Độ)

Trong Trung Bộ 26, Đức Phật tự kể: sau khi đi tìm điều thiện, tìm trạng thái tịch tịnh tối thượng, Ngài du hành qua xứ Magadha và đến thị trấn Senā ở Uruvelā, thấy một khoảnh đất đẹp, một dòng sông trong, và ở lại đó tinh tấn cho đến khi chứng đạt Niết-bàn (MN 26, đoạn 17.1–18.3). Vùng Uruvelā xưa nay là Bồ-đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), bang Bihar, Ấn Độ, với tháp Mahabodhi và cây Bồ-đề.

3. Lộc Uyển, nơi chuyển Pháp luân (Sarnath, Ấn Độ)

Kinh Chuyển Pháp Luân mở đầu: “Một thời, Đức Thế Tôn trú gần Bārāṇasī, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana”, rồi giảng cho năm vị Tỷ-kheo về Trung đạo và bốn Thánh đế (SN 56.11, đoạn 1.1). Isipatana nay là Sarnath, ở ngoại vi thành phố Varanasi, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, nơi còn tháp Dhamek.

4. Câu-thi-na, nơi nhập Niết-bàn (Kushinagar, Ấn Độ)

Chính Trường Bộ 16 kể Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: “Ta hãy đến bờ bên kia sông Hiraññavatī, đến rừng sāla của dòng Malla ở Upavattana, gần Kusinārā”; rồi Ngài nằm nghiêng bên phải giữa hai cây sāla song thọ, trong chánh niệm tỉnh giác (DN 16, đoạn 5.1.2–5.1.7). Câu-thi-na (Kusinārā) nay là Kushinagar, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, có đền Đại Bát Niết-bàn với tượng Phật nằm.

Hành hương với tâm thế nào

Một chuyến đi bốn thánh tích thường kéo dài nhiều ngày, đường xa và nhiều bụi. Thử hình dung bạn ngồi dưới cây Bồ-đề lúc chiều, giữa tiếng tụng kinh của nhiều nước. Cái quý nhất không phải tấm ảnh chụp được, mà là giây phút nhớ ra rằng một con người đã ngồi ở đây và tìm ra con đường thoát khổ, và con đường ấy vẫn mở cho mình.

Cũng trong Trường Bộ 16, Đức Phật nói rõ điều quan trọng hơn mọi nghi lễ: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cận sự nam hay cận sự nữ nào sống thực hành Pháp và tùy Pháp, sống chân chánh, người ấy tôn kính, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng (DN 16, đoạn 5.3.9). Vì vậy, nếu chưa thể đi, bạn vẫn không thiếu gì.

Một gợi ý nhỏ

Nếu bạn sắp đi, hãy mang theo bản Kinh Chuyển Pháp Luân và đọc nó ở Sarnath, đọc Tam quy ở Bồ-đề Đạo Tràng. Nếu chưa đi, tuần này bạn thử mỗi tối đọc một đoạn ngắn của bốn bài kinh nói trên, mỗi tối một nơi, như một chuyến hành hương trong tâm. Bài Đức Phật là ai có thể là điểm khởi đầu.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát Niết-bàn, DN 16 trên SuttaCentral.
  2. Kinh Tập 3.11, Kinh Nālaka, Snp 3.11 trên SuttaCentral.
  3. Trung Bộ 26, Kinh Thánh Cầu, MN 26 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân, SN 56.11 trên SuttaCentral.
  5. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  6. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Đọc nguyên văn bài kinh