Đức Phật là ai: người tìm ra con đường, không phải đấng ban phước
Nhiều người đến chùa lễ Phật với lòng thành, mong được che chở. Lời kinh gốc giúp ta hiểu rõ hơn vị mình đang đảnh lễ: một người trẻ rời nhà đi tìm lối thoát khổ, tìm ra, rồi dành cả đời chỉ đường cho người khác.
Một người trẻ đi tìm lối thoát
Câu chuyện rõ nhất về cuộc đời Đức Phật không nằm trong truyện tranh hay phim ảnh, mà nằm trong lời chính Ngài kể lại ở Kinh Thánh Cầu (Trung Bộ 26). Ngài kể rằng trước khi giác ngộ, Ngài cũng như mọi người: bản thân phải chịu sinh, già, bệnh, chết, mà lại đi tìm những thứ cũng phải chịu sinh, già, bệnh, chết. Rồi Ngài tự hỏi: sao ta không đi tìm cái không sinh, không già, không bệnh, không chết, sự an ổn vô thượng khỏi mọi ách trói buộc, tức Niết-bàn (MN 26, đoạn 13.3–13.4)?
Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Trung Bộ 26, đoạn 14.1
Kinh kể lại cuộc ra đi ấy rất giản dị: đó là quyết định của một người trẻ thấy rõ cái khổ của kiếp người và muốn tìm lối ra, dù phải làm cha mẹ đau lòng.
Học, thử, rồi tự mình tìm ra
Kinh kể tiếp: Ngài theo học hai vị thầy nổi tiếng là Āḷāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta, chứng đạt những trạng thái cao nhất mà mỗi vị dạy. Āḷāra Kālāma mời Ngài cùng lãnh đạo hội chúng, Uddaka Rāmaputta mời Ngài lãnh đạo hội chúng. Nhưng Ngài nhận ra pháp ấy không đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, mà chỉ đưa đến tái sinh vào một cõi cao, nên đều rời đi (đoạn 15.32–15.36, 16.32–16.36).
Ngài đến Uruvelā, ngồi xuống bên dòng sông và tinh tấn (đoạn 17.1–17.7). Ở đó Ngài chứng đạt điều mình tìm kiếm, và trí và kiến sinh khởi nơi Ngài: “Sự giải thoát của Ta là không lay chuyển; đây là đời sống cuối cùng; nay không còn tái sinh nữa” (đoạn 18.3). Ngài không được ai trao cho sự giác ngộ. Ngài tự tìm ra.
Ngài tự nhận mình là gì
Trong Tăng Chi Bộ 4.36, vị bà-la-môn Doṇa thấy dấu chân Đức Phật có hình bánh xe nghìn căm, nghĩ rằng đây không thể là dấu chân của người thường, liền lần theo và hỏi: Ngài sẽ là một vị trời chăng? Một càn-thát-bà chăng? Một dạ-xoa chăng? Một người chăng? Đức Phật đều đáp không (AN 4.36, đoạn 1.3–2.8). Doṇa hỏi: vậy Ngài là gì? Đức Phật giải thích: những lậu hoặc mà nếu chưa đoạn trừ thì Ngài có thể thành trời, càn-thát-bà, dạ-xoa hay người, Ngài đều đã đoạn trừ, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây thốt nốt đã bị chặt, không thể sinh khởi lại (đoạn 3.9–4.2). Rồi Ngài nói:
Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn sanh ta trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt.
Tăng Chi Bộ 4.36, đoạn 4.3–4.5
Chữ “Phật” (Buddha) nghĩa là bậc đã tỉnh thức, đã giác ngộ. Đức Phật không xếp mình vào hàng trời hay thần linh, cũng không nói mình là đấng tạo hóa cai quản thế gian. Ngài sinh ra làm người, nhưng đã vượt lên khỏi mọi cõi tái sinh: Ngài là bậc đã thức dậy khỏi giấc mê của tham, sân, si. Vì thế Phật tử tôn kính Ngài là bậc Thầy của trời và người.
Người chỉ đường, không phải người ban phước
Bài pháp đầu tiên của Ngài ở vườn Lộc Uyển không có lời hứa ban ơn nào. Ngài chỉ ra con đường Trung đạo, tránh cả hưởng thụ dục lạc lẫn hành hạ thân xác, đưa đến an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn (SN 56.11, đoạn 2.4). Pháp Cú 276 nói gọn: “Chính các bạn phải nỗ lực; các Như Lai chỉ là người chỉ đường.”
Gần cuối đời, Ngài bảo Tôn giả Ānanda rằng Ngài đã dạy Pháp không phân biệt trong ngoài, Như Lai không có “nắm tay bí mật của người thầy” (DN 16, đoạn 2.25.2–2.25.3). Ngài dạy hãy lấy chính mình làm hòn đảo, làm chỗ nương tựa, lấy Pháp làm hòn đảo, làm chỗ nương tựa, không nương tựa nơi nào khác (đoạn 2.26.1). Và Ngài dặn: sau khi Ta đi rồi, Pháp và Luật Ta đã dạy sẽ là thầy của các con (đoạn 6.1.5).
Ví dụ đời thường: bạn bị bệnh, gặp một thầy thuốc giỏi. Thầy khám, chỉ đúng bệnh, kê đúng thuốc. Nhưng nếu bạn chỉ thắp hương trước tấm ảnh của thầy mà không uống thuốc, bệnh không khỏi. Đức Phật cũng vậy. Lòng tôn kính Ngài là quý, và lòng tôn kính ấy trọn vẹn nhất khi ta thực hành.
Một gợi ý nhỏ
Lần tới khi đứng trước tượng Phật, thay vì xin một điều gì, bạn thử thầm nhớ: “Ngài đã sinh ra làm người như tôi, và Ngài đã tìm ra lối thoát.” Rồi chọn một việc nhỏ trong ngày để đi theo con đường ấy: một lời nói thật, một lần nhịn cơn giận, năm phút ngồi yên theo dõi hơi thở. Đó là cách lễ Phật gần với lời Ngài dạy nhất.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 26, Kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesanā Sutta), MN 26 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.36, Kinh Doṇa, AN 4.36 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân, SN 56.11 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát-niết-bàn, DN 16 trên SuttaCentral.
- Pháp Cú, kệ 276, Dhp 273–289 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.