Tiểu Tụng 1 · Khp 1

Tam Quy

Saraṇattaya

Bài tụng ngắn nhất mà cũng căn bản nhất: ba lần nói lên rằng mình nương tựa nơi Phật, Pháp, Tăng.

Trước khi đọc kinh

Tam Quy là bài đầu tiên của Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha), tập kinh nhỏ dùng để tụng đọc trong Phật giáo Nam truyền. Bài tụng mở bằng lời kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác (đoạn 1.1), rồi nói lên ba lời quy y Phật, Pháp, Tăng (đoạn 2.1–2.3), lặp lại lần thứ hai và lần thứ ba (đoạn 3–4). Đây là lời tụng mở đầu hầu hết các buổi lễ, các khóa tu và nghi thức thọ giới ở chùa Nam tông.

Chữ “quy y” dịch từ saraṇaṁ gacchāmi, nghĩa đen là “con đi đến chỗ nương tựa”. Saraṇa là nơi che chở, nơi trú ẩn an toàn. Quy y không phải là cầu xin một đấng nào ban phước hay xóa tội. Người quy y nhận Đức Phật làm bậc Thầy chỉ đường, nhận Pháp làm con đường mình sẽ tự bước đi, và nhận Tăng, tức những người đã và đang thực hành đúng, làm gương sáng và bạn đồng hành. Sự che chở đến từ chính việc mình sống theo Pháp.

Vì sao phải nói ba lần? Lặp lại ba lần là cách xác quyết trang trọng, để lời quy y không phải một câu buột miệng. Theo Luật tạng (Đại Phẩm, Mahāvagga), thuở ban đầu người xin xuất gia được nhận vào Tăng chúng bằng chính ba lần quy y này. Kinh Nguồn Phước (AN 8.39) xếp quy y Phật, Pháp, Tăng là ba dòng phước đầu tiên trong tám dòng phước đem lại an lạc. Bạn có thể tụng Tam Quy mỗi sáng như một cách nhắc mình: hôm nay ta chọn nương tựa nơi điều gì.

Ý chính

  • Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác (1.1).
  • Quy y Phật: nương tựa nơi bậc Thầy đã tự giác ngộ (2.1).
  • Quy y Pháp: nương tựa nơi con đường đã được chỉ rõ (2.2).
  • Quy y Tăng: nương tựa nơi đoàn thể những người thực hành đúng (2.3).
  • Lặp lại lần thứ hai và thứ ba để tâm xác quyết (3.1–4.3).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
saraṇa
nơi nương tựa, chỗ che chở
saraṇaṁ gacchāmi
con đi đến chỗ nương tựa: con xin quy y
Buddha
Phật: bậc Giác Ngộ
Dhamma
Pháp: lời dạy và chân lý
Saṅgha
Tăng: đoàn thể những người thực hành
namo
kính lễ
sammāsambuddha
Chánh Đẳng Giác: tự mình giác ngộ hoàn toàn

Tam Quy

1Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!

2Đệ tử quy y Phật,

Đệ tử quy y Pháp,

Đệ tử quy y Tăng.
Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.I take refuge in the Buddha, I take refuge in the Teaching, I take refuge in the Saṅgha.

3Lần thứ hai đệ tử quy y Phật,

Lần thứ hai đệ tử quy y Pháp,

Lần thứ hai đệ tử quy y Tăng.
Dutiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.For the second time I take refuge in the Buddha, for the second time I take refuge in the Teaching, for the second time I take refuge in the Saṅgha.

4–5Lần thứ ba đệ tử quy y Phật

Lần thứ ba đệ tử quy y Pháp.

Lần thứ ba đệ tử quy y Tăng.
Tatiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi. Saraṇattayaṁ.For the third time I take refuge in the Buddha, for the third time I take refuge in the Teaching, for the third time I take refuge in the Saṅgha.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tiểu Tụng 1 (Saraṇattaya). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Khp 1 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp