Câu này Phật có nói không?

“Buông bỏ” Phật dạy thế nào: chiếc bè và điều không phải của mình

“Buông bỏ” là chữ được nhắc nhiều nhất khi nói về đạo Phật. Kinh có dạy buông, nhưng nói rõ buông cái gì, và có một ví dụ cho thấy phải dùng chiếc bè hết sức trước khi buông nó.

Tóm lại: Kinh có dạy buông bỏ, và rất rõ ràng. Tương Ưng Bộ 22.33: “Cái gì không phải của các con, hãy buông nó”, tức năm uẩn. Trung Bộ 22 so sánh giáo pháp với chiếc bè: dùng để qua sông, không phải để vác trên vai. Nhưng người trong ví dụ phải tự kết bè, chèo bằng cả tay chân, qua tới bờ rồi mới để bè lại. Buông bỏ trong kinh là buông chấp thủ và ái, không phải buông nỗ lực hay trách nhiệm.

Ví dụ chiếc bè

Trung Bộ 22 (MN 22), Kinh Ví Dụ Con Rắn, mở đầu bằng chuyện một Tỷ-kheo tên Ariṭṭha hiểu sai giáo pháp và bám chặt vào cách hiểu ấy (MN 22, đoạn 2.1–3.19). Trong bối cảnh đó, Đức Phật nói: “Ta dạy các con giáo pháp ví như chiếc bè, để vượt qua, không phải để nắm giữ” (nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya, đoạn 13.1).

Ngài kể: một người đi đường gặp một dòng nước lớn, bờ bên này đầy nguy hiểm, bờ bên kia an ổn, mà không có thuyền hay cầu. Người ấy gom cỏ, cành, lá, kết thành bè, rồi “nương vào chiếc bè, chèo bằng tay và chân”, qua đến bờ bên kia an toàn (đoạn 13.5–13.12). Qua rồi, người ấy nghĩ: chiếc bè này giúp ta nhiều, hay ta đội nó lên đầu, vác nó lên vai mà đi? Đức Phật hỏi, và các Tỷ-kheo đáp rằng làm vậy là không đúng việc. Việc nên làm là kéo bè lên bờ hay thả xuống nước, rồi đi tiếp (đoạn 13.13–13.25).

Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.

Trung Bộ 22, đoạn 14.1

Câu “Pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp” vì thế là lời Phật thật. Nhưng hãy để ý thứ tự trong ví dụ: kết bè, chèo hết sức, qua sông, rồi mới buông. Người còn đứng ở bờ bên này mà vứt bè thì không phải buông bỏ, mà là bỏ cuộc.

Cái gì không phải của mình

Tương Ưng Bộ 22.33 (SN 22.33) nói thẳng điều cần buông:

Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Tưởng, này các Tỷ-kheo … Các hành, này các Tỷ-kheo … Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó.

Tương Ưng Bộ 22.33, đoạn 1.2–1.13

Bản Pāli: Yaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha. Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati. Đức Phật đưa ví dụ: nếu có người ôm cỏ, cành, lá trong rừng Kỳ Viên (Jetavana) đi đốt, các Tỷ-kheo có nghĩ “người ta đang đốt chúng tôi” không? Không, vì những thứ ấy “không phải là tự ngã, cũng không thuộc về tự ngã” (đoạn 2.1–2.6). Trung Bộ 22 lặp lại đúng lời dạy này (đoạn 40.1–41.28). Đây là cùng tinh thần với Kinh Vô Ngã Tướng: thấy năm uẩn “cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải tự ngã của tôi”.

Trong bài pháp đầu tiên, Đức Phật còn nói diệt khổ là sự ly tham, đoạn diệt chính ái ấy, “là sự từ bỏ, buông bỏ, giải thoát, không còn bám víu” (cāgo paṭinissaggo mutti anālayo, Tương Ưng Bộ 56.11, đoạn 4.7). Điều được buông là ái, sự khát khao bám víu, chứ không phải con người hay bổn phận.

Phần nào có trong kinh, phần nào không

  • Có trong kinh: “Cái gì không phải của các con, hãy buông nó” (SN 22.33; MN 22); ví dụ chiếc bè và câu “buông cả các pháp, huống gì những điều không phải pháp” (MN 22, đoạn 13.1–14.1).
  • Diễn ý: “buông được thì nhẹ”, “buông bỏ là hạnh phúc”. Gần với “buông nó, các con sẽ được lợi ích và an vui”.
  • Không tìm thấy: “buông bỏ tất cả, không cần cố gắng”, “mặc kệ mọi chuyện cho nhẹ lòng”. Kinh không dạy buông nỗ lực; người qua sông phải chèo bằng cả tay chân.

Một ví dụ

Thử hình dung một người mẹ có con trai vừa vào đại học ở xa. Bà nghe người ta khuyên “phải buông bỏ”, nên cố ép mình không gọi điện, không hỏi han, trong lòng thì lo đến mất ngủ. Đó là buông bên ngoài mà nắm chặt bên trong. Cách buông theo kinh khác hẳn: bà vẫn gọi con, vẫn gửi đồ ăn, nhưng nhận ra ý nghĩ “con phải sống đúng như mẹ muốn” và nới tay với chính ý nghĩ ấy. Bổn phận vẫn còn nguyên; chỉ sự chấp chặt được thả ra. Những bổn phận của cha mẹ và con cái được kể rõ trong Kinh Thi-ca-la-việt.

Một gợi ý nhỏ

Bạn thử chọn một điều đang làm mình bận lòng và hỏi: “Phần nào ở đây là việc mình cần làm, phần nào chỉ là mình đang nắm chặt?” Làm trọn phần thứ nhất, và tập thả nhẹ phần thứ hai. Đọc thêm Kinh Bọt Nước để thấy vì sao năm uẩn không đáng để ôm chặt.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Trung Bộ 22, Kinh Ví Dụ Con Rắn (Alagaddūpama Sutta), MN 22 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 22.33, Kinh Không Phải Của Các Con (Natumhāka Sutta), SN 22.33 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 22.59, Kinh Vô Ngã Tướng, SN 22.59 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân, SN 56.11 trên SuttaCentral.
  5. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  6. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh