Nghiệp và tái sinh

Cõi âm, âm phủ là gì? Kinh Nikāya không dùng hai chữ này

Cõi âm hay âm phủ không phải chữ trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, nên hỏi cõi âm là gì thì câu trả lời thẳng là kinh không nói. Điều kinh có là các cõi tái sinh theo nghiệp, trong đó có địa ngục, và hình ảnh vua Yama trong kinh Thiên Sứ.

Tóm lại: Kinh Nikāya không dùng chữ cõi âm hay âm phủ, mà nói về tái sinh vào cõi dữ theo nghiệp (AN 3.36, đoạn 1.4). Vua Yama trong kinh Thiên Sứ gần với hình ảnh Diêm vương nhưng không đồng nhất với quan niệm dân gian, và trọng tâm kinh là nhắc làm lành khi còn sống.

Kinh Nikāya có nói cõi âm hay âm phủ hay không

Câu trả lời thẳng là không. Kinh Nikāya không dùng chữ cõi âm hay âm phủ, và cũng không vẽ một cõi dưới đất nơi người chết về ở. Hai chữ này thuộc về quan niệm dân gian, đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày, nhưng không có trong lời kinh. Người đọc hỏi cõi âm là gì vì muốn biết sau khi chết con người đi đâu, và kinh trả lời câu hỏi ấy bằng con đường tái sinh, không bằng một cõi âm.

Tái sinh vào cõi dữ theo kinh Thiên Sứ

Kinh Thiên Sứ nói rõ người làm ác về thân, lời và ý sẽ tái sinh ra sao. “Sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.” (AN 3.36:1.4; Pāli: So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati) Chữ apāya trong tiếng Pāli nghĩa là cõi dữ, chữ niraya nghĩa là địa ngục, chữ duggati nghĩa là ác thú, còn chữ vinipāta nghĩa là đọa xứ. Bốn chữ này cùng chỉ chỗ tái sinh xấu theo nghiệp, không chỉ một cõi âm có quan cai quản.

Theo cách đọc của người viết, điều kinh nhấn mạnh là nghiệp của chính người ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, chứ không phải một bản án từ bên ngoài. Người đọc muốn hiểu thêm về các cõi có thể xem bài về 31 cõi và chư thiên tại 31 cõi và chư thiên.

Vua Yama trong kinh Thiên Sứ có phải Diêm vương hay không

Kinh Thiên Sứ có nhắc vua Yama, vị vua hỏi người chết về những thiên sứ đã gặp trong đời. “Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”” (AN 3.36:4.1–4.3; Pāli: Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ambho, purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi— ahampi khomhi jarādhammo jaraṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi, kāyena vācāya manasāti?) Chữ Yama là tên riêng của vị vua này trong kinh. Hình ảnh vua Yama gần với hình ảnh Diêm vương trong dân gian, nhưng hai hình ảnh không đồng nhất. Theo cách đọc của người viết, kinh dùng lời hỏi của vua Yama để nhắc người sống làm lành về thân, lời và ý, chứ không phải để mô tả một cõi để cúng bái.

Ví dụ đời thường về chữ cõi âm

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải nghe người trong xóm nói người chết xuống âm phủ chịu xét xử, chú lo cho cha đã mất. Theo cách đọc của người viết, chú Khải có thể bỏ chữ âm phủ qua một bên và nhớ lời kinh, cha chú đi về đâu là theo nghiệp của cha, còn việc của chú là sống hiền thiện và làm việc thiện hồi hướng.

Hỏi nhanh

Cõi âm, âm phủ là gì theo kinh?

Kinh Nikāya không dùng chữ cõi âm hay âm phủ, nên kinh không nói hai chữ này là gì.

Sau khi chết con người đi về đâu theo kinh?

Kinh nói người làm ác về thân, lời và ý sẽ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (AN 3.36, đoạn 1.4).

Vua Yama có phải Diêm vương không?

Hình ảnh vua Yama trong kinh Thiên Sứ gần với hình ảnh Diêm vương, nhưng hai hình ảnh không đồng nhất.

Kinh Thiên Sứ dạy điều gì là chính?

Kinh nhắc làm lành về thân, lời và ý khi còn sống, qua lời hỏi của vua Yama (AN 3.36, đoạn 4.1–4.3).

Câu chốt: Không có cõi âm trong kinh, chỉ có tái sinh theo nghiệp, và lời nhắc làm lành khi còn sống mới là điều kinh muốn người đọc mang theo.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 3.36, Kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 3.36 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 3.36 Pāli.
  2. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chú Khải trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm