Kinh Thiên Sứ
Devadūta Sutta
Vua Diêm-ma hỏi người làm ác: ngươi không thấy người già, người bệnh, người chết sao? Ba hình ảnh quen thuộc ấy là ba vị thiên sứ nhắc ta đừng phóng dật.
Trước khi đọc kinh
Kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta) thuộc Tăng Chi Bộ, phần Ba Pháp, phẩm Thiên Sứ. Trung Bộ cũng có một bài kinh Thiên Sứ dài hơn (MN 130); bài ở Tăng Chi Bộ này gọn hơn, chỉ nói đến ba vị thiên sứ. Đức Thế Tôn kể rằng có người làm ác bằng thân, lời, ý, sau khi chết sinh vào địa ngục; các cai ngục nắm tay người ấy dẫn đến trước vua Diêm-ma (Yama), vị mà người Việt quen gọi là Diêm Vương, và tâu rằng người này không hiếu kính cha mẹ, không kính trọng Sa-môn, Bà-la-môn, không tôn kính bậc trưởng thượng trong gia đình (đoạn 1.3–1.7).
Vua Diêm-ma không kết tội ngay mà lần lượt hỏi về ba vị thiên sứ. Ngươi có thấy giữa loài người một cụ già tám mươi, chín mươi, trăm tuổi, lưng còng, chống gậy, run rẩy bước đi không? Có thấy. Vậy ngươi là người hiểu biết, đã lớn tuổi, sao không nghĩ: ta cũng phải già, hãy làm điều lành bằng thân, lời, ý? Người ấy thưa: tôi đã không làm được, tôi đã phóng dật (đoạn 3.2–4.5). Câu hỏi được lặp lại với người bệnh nặng nằm lăn trong phân và nước tiểu của chính mình (đoạn 6.6), và với thi thể đã chết một, hai, ba ngày, trương phình, bầm tím (đoạn 10.2). Lần nào câu trả lời cũng là “tôi đã phóng dật”, và lần nào vua Diêm-ma cũng nói một câu rất đáng nhớ: việc ác ấy không phải cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con, chư thiên hay Sa-môn, Bà-la-môn làm; chính ngươi đã làm, và chính ngươi sẽ nhận lấy quả dị thục, tức quả của nghiệp ấy (đoạn 5.4–5.5). Rồi vua im lặng, và các cai ngục thi hành những hình phạt khốc liệt (đoạn 13.1–15.7).
Đọc bài kinh này, điều đáng chú ý không phải là cảnh địa ngục, mà là ba “sứ giả” ai cũng đã gặp: người già trong nhà, người bệnh trong bệnh viện, một đám tang trong xóm. Kinh gọi chúng là thiên sứ vì chúng nhắc ta điều ta dễ quên: chính ta cũng phải già, phải bệnh, phải chết, ta chưa vượt khỏi những điều ấy (đoạn 4.3, 7.3, 11.3). Ngay cả vua Diêm-ma cũng ước được sinh làm người, được gặp một vị Như Lai và hiểu Pháp (đoạn 18.2–18.4), và Đức Phật nói rõ điều này Ngài tự mình biết, tự mình thấy, không phải nghe ai kể lại (đoạn 18.5). Bài kệ cuối kinh đối chiếu hai hạng người: người được thiên sứ nhắc nhở mà vẫn phóng dật thì sầu muộn lâu dài; bậc chân nhân được nhắc nhở thì không phóng dật, thấy hiểm họa nơi chấp thủ, được giải thoát, an vui, vượt lên mọi khổ đau (đoạn 19.1–22.4). Thông điệp của kinh vì vậy rất hiền: không phải để sợ hãi, mà để đừng bao giờ phải nói “tôi đã phóng dật”.
Ý chính
- Người già, người bệnh, người chết là ba vị thiên sứ hiện ra giữa loài người (3.2, 6.6, 10.2).
- Thấy người già, người hiểu biết nên nghĩ: ta cũng phải già, hãy làm điều lành (4.2–4.3).
- Người làm ác thưa: tôi đã không làm được, tôi đã phóng dật (4.5).
- Việc ác do chính mình làm, chính mình nhận quả, không ai làm thay (5.4–5.5).
- Vua Diêm-ma cũng ước được làm người để gặp Như Lai và hiểu Pháp (18.3–18.4).
- Bậc chân nhân được thiên sứ nhắc nhở thì không phóng dật, vượt lên mọi khổ đau (20.1–22.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- devadūta
- thiên sứ, sứ giả của chư thiên
- Yama
- vua Diêm-ma, Diêm Vương
- nirayapāla
- cai ngục nơi địa ngục
- jarādhamma
- có bản chất phải già
- pamāda
- phóng dật, buông lung
- kalyāṇa
- điều lành
- vipāka
- quả dị thục, quả của nghiệp
- upādāna
- chấp thủ
Kinh Thiên Sứ
1—Có ba Thiên sứ này, này các Tỷ-kheo, Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Rồi này các Tỳ kheo, những người lính địa ngục với hai cánh tay bắt người ấy dẫn đến Vua Yama (Diêm vương) và thưa:
—“Thưa Đại vương, người này không kính mẹ, không kính cha, không kính Sa-môn, không kính Bà-la-môn, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình, Đại vương hãy hình phạt nó”“Tīṇimāni, bhikkhave, devadūtāni. Katamāni tīṇi? Idha, bhikkhave, ekacco kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā nānābāhāsu gahetvā yamassa rañño dassenti: ‘ayaṁ, deva, puriso amatteyyo apetteyyo asāmañño abrahmañño, na kule jeṭṭhāpacāyī. Imassa devo daṇḍaṁ paṇetū’ti.“There are, mendicants, these three messengers of the gods. What three? Firstly, someone does bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. The wardens of hell take them by the arms and present them to King Yama, saying, ‘Your Majesty, this person did not pay due respect to their mother and father, ascetics and brahmins, or honor the elders in the family. May Your Majesty punish them!’
2Rồi vua Yama chất vấn người ấy:, cật vấn, nạn vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ nhất hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa ngài”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho, purisa, na tvaṁ addasa manussesu paṭhamaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti? So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.King Yama pursues, presses, and grills them about the first messenger of the gods: ‘My man, did you not see the first messenger of the gods that appeared among human beings?’ They say, ‘I saw nothing, sir.’
3Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, đầu rung, tay chân da mồi khô đét?”
Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā āsītikaṁ vā nāvutikaṁ vā vassasatikaṁ vā jātiyā jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyaṇaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ vilūnaṁ khallitasiraṁ valitaṁ tilakāhatagattan’ti? So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings an elderly woman or a man—eighty, ninety, or a hundred years old—bent double, crooked, leaning on a staff, trembling as they walk, ailing, past their prime, with teeth broken, hair grey and scanty or bald, skin wrinkled, and limbs blotchy?’ They say, ‘I saw that, sir.’
4Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho, purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi— ahampi khomhi jarādhammo jaraṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi, kāyena vācāya manasā’ti? So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature— “I, too, am liable to grow old. I’m not exempt from old age. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’ They say, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
5Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng sẽ làm cho ngươi, đúng theo sự phóng dật của ngươi. Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho, purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ; atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by the deities, or by ascetics and brahmins. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
6Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ nhất, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa ngài”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, bệnh hoạn khổ não nguy kịch, rơi nằm trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā, dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu dutiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti? So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti. Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ, sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ, aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ, aññehi saṁvesiyamānan’ti? So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.King Yama grills them about the second messenger of the gods: ‘My man, did you not see the second messenger of the gods that appeared among human beings?’ They say, ‘I saw nothing, sir.’ King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings a woman or a man, sick, suffering, gravely ill, collapsed in their own urine and feces, being picked up by some and put down by others?’ They say, ‘I saw that, sir.’
7Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị bệnh, ta không vượt qua bệnh hoạn. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi: “ahampi khomhi byādhidhammo byādhiṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā”’ti? So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature— “I, too, am liable to become sick. I’m not exempt from sickness. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’ They say, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
8Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia … ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy.”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ; atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by the deities, or by ascetics and brahmins. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
9Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ hai, liền chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba:
—“Này người kia, người có thấy vị Thiên sứ thứ ba hiện ra giữa loài người không?”
Người ấy trả lời:
—“Con không thấy, thưa Ngài.”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā, tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu tatiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti? So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.King Yama grills them about the third messenger of the gods: ‘My man, did you not see the third messenger of the gods that appeared among human beings?’ They say, ‘I saw nothing, sir.’
10Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, chết đã được một ngày, hay chết được hai ngày, hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra?”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātan’ti? So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings a woman or a man, dead for one, two, or three days, bloated, livid, and festering?’ They say, ‘I saw that, sir.’
11Người ấy nói như sau:
—“Thưa Ngài, con có thấy”.
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy như sau:
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị chết, ta không vượt qua sự chết. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi— ahampi khomhi maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti? So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature— “I, too, am liable to die. I’m not exempt from death. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’ They say, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
12Người ấy nói như sau:
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
—“Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia … ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của các nghiệp ấy.”Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ; atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ. Tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’”ti.King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by the deities, or by ascetics and brahmins. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
13–14Rồi vua Yama, này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, nạn vấn người ấy về vị Thiên sứ thứ ba, rồi giữ im lặng.
Rồi này các Tỷ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc. Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, rồi các người lính địa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy cái rìu chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ.Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā tuṇhī hoti. Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā pañcavidhabandhanaṁ nāma kāraṇaṁ karonti. Tattaṁ ayokhilaṁ hatthe gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ dutiyasmiṁ hatthe gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ pāde gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ dutiyasmiṁ pāde gamenti. Tattaṁ ayokhilaṁ majjhe urasmiṁ gamenti. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti. Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā saṁvesetvā kudhārīhi tacchanti. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.After grilling them about the third messenger of the gods, King Yama falls silent. The wardens of hell punish them with the five-fold crucifixion. They drive red-hot stakes through the hands and feet, and another in the middle of the chest. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated. The wardens of hell throw them down and hack them with axes. …
15Này các Tỷ-kheo, rồi các người lính địa ngục dựng ngược người ấy, chân trên đầu dưới và lấy dao sắc chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục, cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới, kéo người ấy chạy lui, trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây thọ lãnh … chưa được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, các người lính địa ngục nắm ngược người ấy, chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây, bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy được tiêu trừ. Rồi này các Tỷ-kheo, những người lính địa ngục quăng người ấy vào Đại địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Đại địa ngục ấy:Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā vāsīhi tacchanti …pe… tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā rathe yojetvā ādittāya bhūmiyā sampajjalitāya sajotibhūtāya sārentipi paccāsārentipi …pe… tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahantaṁ aṅgārapabbataṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ āropentipi oropentipi …pe… tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā tattāya lohakumbhiyā pakkhipanti, ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya. (…) So tattha pheṇuddehakaṁ paccamāno sakimpi uddhaṁ gacchati, sakimpi adho gacchati, sakimpi tiriyaṁ gacchati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vediyati, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti. Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahāniraye pakkhipanti. So kho pana, bhikkhave, mahānirayo—They hang them upside-down and hack them with hatchets. … They harness them to a chariot, and drive them back and forth across burning ground, blazing and glowing. … They make them climb up and down a big mountain of burning coals, blazing and glowing. … The wardens of hell turn them upside down and throw them in a red-hot copper pot, burning, blazing, and glowing. There they’re seared in boiling scum, and they’re swept up and down and round and round. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated. The wardens of hell toss them into the Great Hell. Now, about that Great Hell:
16–17Có bốn góc, bốn cửa
Chia thành phần bằng nhau,
Xung quanh có tường sắt,
Mái sắt lợp lên trên
Nền địa ngục bằng sắt
Nung đỏ cháy đỏ rực
Đứng thẳng luôn có mặt
Rộng một trăm do tuầnCatukkaṇṇo catudvāro, vibhatto bhāgaso mito; Ayopākārapariyanto, ayasā paṭikujjito. Tassa ayomayā bhūmi, Jalitā tejasā yutā; Samantā yojanasataṁ, Pharitvā tiṭṭhati sabbadāti.‘Four are its corners, four its doors, neatly divided section by section. Surrounded by an iron wall, of iron is its roof. The ground is even made of iron, it burns with fierce fire. The heat forever radiates a hundred leagues around.’
18Một thời xưa lắm, này các Tỷ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: “Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, ta có thể hầu hạ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng”.
Này các Tỷ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; những điều ta đang nói chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta hiểu mà thôi.Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, yamassa rañño etadahosi: ‘ye kira, bho, loke pāpakāni kammāni karonti te evarūpā vividhā kammakāraṇā karīyanti. Aho vatāhaṁ manussattaṁ labheyyaṁ, tathāgato ca loke uppajjeyya arahaṁ sammāsambuddho, tañcāhaṁ bhagavantaṁ payirupāseyyaṁ. So ca me bhagavā dhammaṁ deseyya, tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ ājāneyyan’ti. Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, na aññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā evaṁ vadāmi, api ca kho, bhikkhave, yadeva me sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmīti.Once upon a time, King Yama thought, ‘Those who do such bad deeds in the world receive these many different punishments. Oh, I hope I may be reborn as a human being! And that a Realized One—a perfected one, a fully awakened Buddha—arises in the world! And that I may pay homage to the Buddha! Let that Buddha teach me Dhamma, so that I may understand his teaching!’ Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.
19–22Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ở đây, bậc Chân nhân,
Được Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc thánh
Thấy sợ trong chấp thủ
Trong hiện hữu sanh tử
Được giải thoát không thủ
Sanh tử được đoạn trừ
Được yên ổn không lạc
Ngay hiện tại tịch tịnh
Mọi oán hận sợ hãi
Các vị ấy vượt qua
Mọi đau đớn khổ sầu
Thảy đều được siêu thoát.Coditā devadūtehi, ye pamajjanti māṇavā; Te dīgharattaṁ socanti, hīnakāyūpagā narā. Ye ca kho devadūtehi, santo sappurisā idha; Coditā nappamajjanti, ariyadhamme kudācanaṁ. Upādāne bhayaṁ disvā, jātimaraṇasambhave; Anupādā vimuccanti, jātimaraṇasaṅkhaye. Te appamattā sukhino, diṭṭhadhammābhinibbutā; Sabbaverabhayātītā, sabbadukkhaṁ upaccagun”ti. Chaṭṭhaṁ.When warned by the gods’ messengers, those sons of Manu who are negligent sorrow for a long time when they go to that wretched place. When warned by the gods’ messengers, the good and true persons here never neglect the teaching of the Noble One. Seeing the danger in grasping, the origin of birth and death, the unattached are freed with the ending of birth and death. Happy, they’ve come to a safe place, quenched in this very life. They’ve gone beyond all enmities and fears, and risen above all suffering.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 3.36 (Devadūta Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 3.36 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.