Địa ngục có thật không? Đức Phật nói gì về địa ngục trong kinh Nikāya
Có người nghe hai chữ “địa ngục” là sợ, có người cười cho là chuyện dọa trẻ con. Bài này không đứng về bên nào. Bài đọc hai bài kinh Nikāya nói thẳng về địa ngục, Kinh Hiền Ngu (MN 129) và Kinh Thiên Sứ (MN 130), để xem kinh nói gì và nói để làm gì.
Kinh nói có địa ngục, như một nơi tái sinh
Chữ Pāli là niraya, bản Minh Châu dịch là địa ngục. Trong Kinh Hiền Ngu (MN 129), Đức Phật nói về người ngu đã làm ác bằng thân, lời và ý: “khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục” (MN 129:6.1; Pāli: kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati). Bốn chữ cuối của câu Pāli lần lượt là apāya (cõi dữ), duggati (ác thú), vinipāta (đọa xứ) và niraya (địa ngục). Theo cách đọc của người viết, câu kinh gắn nơi tái sinh ấy với việc làm ác của chính người đó.
Bài kinh bắt đầu từ đời này
Trước khi nói đến địa ngục, MN 129 nói điều nhiều người bỏ sót: “Người ngu ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại khổ ưu” (MN 129:3.1; Pāli: Sa kho so, bhikkhave, bālo tividhaṁ diṭṭheva dhamme dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti). Ba loại ấy là: bị người đời bàn tán về điều xấu mình làm (đoạn 3.2–3.8); thấy vua chúa trừng phạt kẻ trộm cướp rồi nghĩ mình cũng có thể bị như vậy (đoạn 4.1–4.9); và lúc ngồi, lúc nằm thì việc xấu cũ phủ xuống người ấy như bóng núi buổi chiều phủ xuống mặt đất (đoạn 5.1–5.9).
Thử hình dung chú Khải nói dối khách hàng suốt mấy năm. Ban ngày chú vẫn cười nói, nhưng đêm nằm xuống thì chuyện cũ kéo về. Chú Khải là ví dụ của người viết, không có trong kinh. Nửa sau của MN 129 nói người trí cũng có ba loại cảm thọ ngay trong hiện tại, nhưng là lạc hỷ (đoạn 28.3).
Năm thiên sứ: già, bệnh, chết là lời nhắc
Kinh Thiên Sứ (MN 130) đổi góc nhìn. Devadūta nghĩa là sứ giả của chư thiên. Năm thiên sứ trong kinh là: đứa bé nằm giữa phân và nước tiểu của nó, người già yếu, người bệnh nặng, kẻ trộm bị vua trừng phạt, và một thi thể (đoạn 3.4–8.9). Với mỗi cảnh, vua Yāma hỏi: đã thấy như vậy, sao không nghĩ mình cũng chịu sự chi phối ấy và nên làm điều thiện? Người kia đáp rằng vì mình pamāda, tức phóng dật, buông thả. Vua Yāma nói tiếp: “Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo sự làm ấy” (MN 130:4.13; Pāli: tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti).
Theo cách đọc của người viết, câu hỏi của kinh không phải là bạn có tội không, mà là thấy già, bệnh, chết rồi thì bạn có tỉnh ra không. Đức Phật kết bài kinh bằng bài kệ: “Ở đây bậc Chân nhân, / Được Thiên sứ báo động, / Không bao giờ phóng dật, / Trong diệu pháp bậc Thánh” (MN 130:30.7–30.10; Pāli: Ye ca kho devadūtehi, santo sappurisā idha; coditā nappamajjanti, ariyadhamme kudācanaṁ).
Vì sao bài này không chép các cảnh rùng rợn
Cả hai bài kinh có đoạn dài mô tả hình phạt. Bài này không chép lại. Theo cách đọc của người viết, mục đích kinh là nhắc ta cẩn trọng, không phải để ta hoảng sợ; ai muốn đọc nguyên văn thì mở hai bài kinh trên SuttaCentral. Trong phần mô tả ấy, một câu kết lặp lại nhiều lần: người ấy “không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ” (MN 130:10.3; Pāli: na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti). Theo cách đọc của người viết, câu này gắn nỗi khổ ấy với thời hạn của ác nghiệp. Thời hạn dài ngắn thế nào thì bài này không bàn.
Nếu bạn chưa chắc có tin không
Đức Phật nói rõ chỗ dựa của lời dạy này: “điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi” (MN 130:29.1; Pāli: Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi, api ca yadeva sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmī). Như vậy chỗ dựa là lời của chính Ngài. Bài này không có bằng chứng nào khác, và người viết không có cách kiểm chứng giúp bạn. Với người còn phân vân, bài Kiếp sau có thật không đọc Kinh Kālāma, nơi Đức Phật cho phép nghi. Bài Nghiệp có chuyển được không đọc ví dụ muối bỏ vào nước (AN 3.100).
Một gợi ý nhỏ
Đây là gợi ý của người viết, ngoài lời kinh. Tối nay nhớ lại một việc nhỏ khiến bạn áy náy, ghi một dòng, và hỏi mình có sửa được gì trong tuần này không. Theo cách đọc của người viết, kinh nói về địa ngục để ta kịp sửa khi còn sống, và việc ấy bắt đầu từ một việc nhỏ hôm nay.
Hỏi nhanh
Địa ngục có thật không theo kinh Nikāya?
Trong MN 129 và MN 130, Đức Phật nói địa ngục là nơi tái sinh của người làm ác nghiệp (MN 129:6.1). Chỗ dựa của lời kinh là lời của chính Ngài (MN 130:29.1); bài không có bằng chứng nào khác.
Kinh nói về địa ngục để làm gì?
Theo cách đọc của người viết, để nhắc ta đừng buông thả. MN 130 kết bằng bài kệ nói người tốt, được thiên sứ nhắc, thì không phóng dật (MN 130:30.7–30.10).
Vào địa ngục rồi có ra được không?
MN 130:10.3 nói người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp được tiêu trừ. Bài này không bàn thời hạn dài ngắn.
Người làm ác ngoài đời có phải chịu khổ ngay không?
MN 129:3.1 nói người ngu cảm thọ ba loại khổ ưu ngay trong hiện tại. Đó là điều kinh nói trước khi nói đến địa ngục.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 129, Kinh Hiền Ngu (Bālapaṇḍita Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 129 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 129 Pāli.
- Trung Bộ 130, Kinh Thiên Sứ (Devadūta Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 130 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 130 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Chú Khải là ví dụ của người viết, không có trong kinh.