Chú giải Pháp Cú · Kệ 273–276 · Dhp 273–276

Tích Năm Trăm Tỳ Khưu Luận Đạo

Pañcasatabhikkhuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 273–276 Kinh Pháp Cú, phẩm Đạo, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 273…..276)

273. “Maggān'eṭṭhaṅgiko seṭṭho
Saccānaṃ caturo padā
Virāgo seṭṭho dhammānaṃ
Dipadānañ ca cakkhumā .”
“Bát chánh đường thù thắng
Bốn đế lý thù thắng
Ly dục pháp thù thắng
Giác nhân người thù thắng.”

274. “Eso'va maggo natth'añño
Dassanassa visudhiyā
Etamhi tumhe pat.ipajjatha
Mārass'etaṃ pamohanaṃ .”
“Chỉ đường nầy độc nhất
Khiến tri kiến thanh tịnh

Nếu ngươi theo đường nầy
Ma quân sẽ mê loạn.”
275. “Etamhi tumhe paṭipannā
Dukkhassantaṃ karissatha
Akkhāto ve mayā maggo
Aññāya sallasanthanaṃ .”
“Nếu ngươi theo đường nầy
Đau khổ được diệt trừ
Hiểu được diệt gai chướng
Ta dạy người con đường.”

276. “Tumhehi kiccaṃ ātappaṃ
Akkhātāro tathāgatā
Paṭipannā pamokkhanti
Jhāyino māra bandhanā .”
“Người hãy tự nỗ lực
Như Lai chỉ thuyết dạy
Người thiền định tu đạo
Thoát khỏi lưới ma quân.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến cập đến năm trăm vị Tỳ Khưu.

Tương truyền rằng: Sau khi theo Đức Bổn Sư đi vân du khắp xứ rồi trở về thành Sāvatthī, chư Tỳ Khưu ngồi trong Hội trường đàm luận về đường xá, nói rằng: “Con đường từ làng nọ sang làng kia bằng phẳng, con đường qua làng khác thì không bằng phẳng, con đường nầy có sạn sỏi, con đường kia không sạn sỏi…” . Bằng cách ấy, chư Tăng nhắc lại lộ trình mình đã trải qua. Đức Thế Tôn quán thấy duyên lành A La Hán Quả của chư Tỳ Khưu, bèn ngự đến giảng đường, ngồi lên trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và hỏi:

- Nầy các Tỳ Khưu! Hôm nay các thầy nhóm họp thảo luận về chuyện gì đây?

- Bạch Ngài! Chuyện như thế, như thế…

Nghe vậy, Đức Bổn Sư phán dạy rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu, đó là con đường bên ngoài (ngoại đạo), một Tỳ Khưu chính danh cần phải công tác trên con đường thánh. Có làm như thế, thầy mới được giải thoát khỏi mọi đau khổ.

Nói rồi, Ngài thuyết lên các kệ ngôn rằng:

273. “Maggān'eṭṭhaṅgiko seṭṭho
Saccānaṃ caturo padā
Virāgo seṭṭho dhammānaṃ
Dipadānañ ca cakkhumā .”
“Bát chánh đường thù thắng
Bốn đế lý thù thắng
Ly dục pháp thù thắng
Giác nhân người thù thắng.”
274. “Eso'va maggo natth'añño

Dassanassa visudhiyā
Etamhi tumhe pat.ipajjatha
Mārass'etaṃ pamohanaṃ .”
“Chỉ đường nầy độc nhất
Khiến tri kiến thanh tịnh
Nếu ngươi theo đường nầy
Ma quân sẽ mê loạn.”
275. “Etamhi tumhe paṭipannā
Dukkhassantaṃ karissatha
Akkhāto ve mayā maggo
Aññāya sallasanthanaṃ .”
“Nếu ngươi theo đường nầy
Đau khổ được diệt trừ
Hiểu được diệt gai chướng
Ta dạy người con đường.”
276. “Tumhehi kiccaṃ ātappaṃ
Akkhātāro tathāgatā
Paṭipannā pamokkhanti
Jhāyino māra bandhanā .”
“Người hãy tự nỗ lực
Như Lai chỉ thuyết dạy
Người thiền định tu đạo
Thoát khỏi lưới ma quân.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Maggānatthaṅgiko : Dầu kể tất cả những con đường, nhất là con đường của sáu mươi hai chủ thuyết tà kiến, khi đem ra so sánh bằng tám chi đạo. Tuần tự lấy chánh kiến dẹp bỏ tà kiến… tám lần như thế cho đến chỗ diệt tuyệt các đối tượng để giác ngộ khổ đế trong Tứ Đế, thì thấy rằng Bát Chánh Đạo là con đường tối thượng thù thắng nhất.

Saccānaṃ caturo padā : Không nên nóng giận với lời chân thật. Xin cho có sự chân thật trong lời nói ngày vị lai. Người Bà La Môn thật, người Sát Đế Lỵ thật theo sự phân chia giai cấp ở Ấn Độ, tất cả sự thật (sacca) nầy chỉ là giả định, thuộc về Tục đế sự thật (Sammutisacca) hay chỉ là chân lý của thế gian, chỉ là không tưởng (Moghaṃ aññam) là chân lý tà kiến hoặc là Tứ Đế nhất là Khổ Đế. Con đối với bậc Thánh thì sự thật ở đây chính là sự thật cùng tột hay Thánh Đế, hay Đệ nhất nghĩa đế (Paramatthasaccaṃ).

Nói cách khác, trong hai thứ chân lý: Tục Đế và Chân Đế thì Chân Đế là điều cần phải thực thi như: Khổ đế cần phải thắng tri, Tập đế cần phải đoạn trừ, Diệt đế cần phải tác chứng và Đạo đế cần phải tu tiến. Chân lý hay Tứ Đế ấy là tối thượng.

Virāgo saṭṭho dhammānaṃ : Có Phật ngôn rằng : Nầy các Tỳ Khưu khi so sáng với các hữu vi hoặc vô vi thì sự ly dục là cao siêu hơn cả các pháp ấy. Do đó, ly dục gọi là Níp bàn thù thắng.

Dipadānañ ca cakkhumā : Trong tất cả các chúng sanh nhất là về phía Chư Thiên và nhân loại là giống lưỡng túc (hai chân), chỉ có Đức Như Lai là thù thắng trong thân sắc, ngay cả trong vô sắc pháp hay danh pháp thì Đức Như Lai cũng thù thắng tối thượng (hơn cả Phạm Thiên Vô sắc).

Dassanassa visuddhiyā : Con đường nào khiến ta hướng được lợi ích của đạo quả tri kiến tịnh, chính đó là con đường độc nhất vô nhị.

Etaṃhi : Bởi thế, các thầy hãy hành trì theo như vậy.

Mārassetaṃ pamohanaṃ : Ma Vương sẽ mê loạn, sẽ bị phỉnh lừa, sẽ ngơ ngác.

Dukkhassantaṃ : Hãy đoạn tuyệt toàn thể cái vòng luân hồi khổ.

Sallasanthanaṃ : Các mũi nhọn, nhất là mũi nhọn của tình ái, các dao bén, các sự đè ép, trói buộc. Con đường đó không có ai chỉ dạy ta cả, chỉ tự ta giác ngộ lấy một mình, nay ta chỉ dạy cho các thầy. ā6y giờ, con đường đó đã được chỉ dạy, các thầy đang bị phiền não thiêu đốt. Muốn mau giác ngộ con đường đó, các thầy phải nỗ lực, chuyên cần làm các phận sự cần thiết mà Như Lai đã chỉ dạy toàn bộ rồi. Bởi vậy, những hành giả nào nương theo những điều chỉ dạy, hành thiền Chỉ quán, những hành giả ấy sẽ thoát khỏi những trói buộc của Ma Vương, có tên là cái vòng luân hồi trong Tam giới.

Cuối thời Pháp, năm trăm Tỳ Khưu đều đắc quả A La Hán. Kỳ dư thính chúng cũng được hưởng sự lợi ích của thời Pháp.

Con đường Bát Chánh Phật tìm ra
Dẫn chúng sanh lên khỏi ái hà
Lấy Khổ làm đầu trong Tứ Đế
Vô vi khắc phục chúng quần ma
Là đường độc nhất cả xưa nay
Có sản nhưng không được hiển bày
Phật tự giác rồi đem giáo hóa
Chư Tăng hưởng ứng bước theo ngay
Chẳng phải đường đi của thế nhân
Ngựa xe rộn rịp khách quen chân
Hoặc đường đạo khác theo tà kiến
Đường Níp Bàn xa hẳn bụi trần …

DỨT TÍCH NĂM TRĂM TỲ KHƯU LUẬN ĐẠO

Pañcasatabhikkhuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Maggānaṭṭhaṅgikoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto pañcasate bhikkhū ārabbha kathesi.

Te kira satthari janapadacārikaṃ caritvā puna sāvatthiṃ āgate upaṭṭhānasālāya nisīditvā “asukagāmato asukagāmassa maggo samo, asukagāmassa maggo visamo, sasakkharo, asakkharo”tiādinā nayena attano vicaritamaggaṃ ārabbha maggakathaṃ kathesuṃ. Satthā tesaṃ arahattassūpanissayaṃ disvā taṃ ṭhānaṃ āgantvā paññattāsane nisinno “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, ayaṃ bāhirakamaggo, bhikkhunā nāma ariyamagge kammaṃ kātuṃ vaṭṭati, evañhi karonto bhikkhu sabbadukkhā pamuccatī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Maggānaṭṭhaṅgiko seṭṭho, saccānaṃ caturo padā;
Virāgo seṭṭho dhammānaṃ, dvipadānañca cakkhumā.

“Eseva maggo natthañño, dassanassa visuddhiyā;
Etañhi tumhe paṭipajjatha, mārassetaṃ pamohanaṃ.

“Etañhi tumhe paṭipannā, dukkhassantaṃ karissatha;
Akkhāto vo mayā maggo, aññāya sallakantanaṃ.

“Tumhehi kiccamātappaṃ, akkhātāro tathāgatā;
Paṭipannā pamokkhanti, jhāyino mārabandhanā”ti.

Tattha maggānaṭṭhaṅgikoti jaṅghamaggādayo vā hontu dvāsaṭṭhi diṭṭhigatamaggā vā, tesaṃ sabbesampi maggānaṃ sammādiṭṭhiādīhi aṭṭhahi aṅgehi micchādiṭṭhiādīnaṃ aṭṭhannaṃ pahānaṃ karonto nirodhaṃ ārammaṇaṃ katvā catūsupi saccesu dukkhaparijānanādikiccaṃ sādhayamāno aṭṭhaṅgiko maggo seṭṭho uttamo. Saccānaṃ caturo padāti “saccaṃ bhaṇe na kujjheyyā”ti (dha. pa. 224) āgataṃ vacīsaccaṃ vā hotu, “sacco brāhmaṇo sacco khattiyo”tiādibhedaṃ sammutisaccaṃ vā “idameva saccaṃ moghamañña”nti (dha. sa. 1144; ma. ni. 2.187-188) diṭṭhisaccaṃ vā “dukkhaṃ ariyasacca”ntiādibhedaṃ paramatthasaccaṃ vā hotu, sabbesampi imesaṃ saccānaṃ parijānitabbaṭṭhena sacchikātabbaṭṭhena pahātabbaṭṭhena bhāvetabbaṭṭhena ekapaṭivedhaṭṭhena ca tathapaṭivedhaṭṭhena ca dukkhaṃ ariyasaccantiādayo caturo padā seṭṭhā nāma. Virāgo seṭṭho dhammānanti “yāvatā, bhikkhave, dhammā saṅkhatā vā asaṅkhatā vā, virāgo tesaṃ aggamakkhāyatī”ti (itivu. 90; a. ni. 4.34) vacanato sabbadhammānaṃ nibbānasaṅkhāto virāgo seṭṭho. Dvipadānañca cakkhumāti sabbesaṃ devamanussādibhedānaṃ dvipadānaṃ pañcahi cakkhūhi cakkhumā tathāgatova seṭṭho. Ca-saddo sampiṇḍanattho, arūpadhamme sampiṇḍeti. Tasmā arūpadhammānampi tathāgato seṭṭho uttamo.

Dassanassa visuddhiyāti maggaphaladassanassa visuddhatthaṃ yo mayā “seṭṭho”ti vutto, esova maggo, natthañño. Etañhi tumheti tasmā tumhe etameva paṭipajjatha. Mārassetaṃ pamohananti etaṃ māramohanaṃ māramanthananti vuccati. Dukkhassantanti sakalassapi vaṭṭadukkhassa antaṃ paricchedaṃ karissathāti attho. Aññāya sallakantananti rāgasallādīnaṃ kantanaṃ nimmathanaṃ abbūhaṇaṃ etaṃ maggaṃ, mayā vinā anussavādīhi attapaccakkhato ñatvāva ayaṃ maggo akkhāto, idāni tumhehi kilesānaṃ ātāpanena “ātappa”nti saṅkhaṃ gataṃ tassa adhigamatthāya sammappadhānavīriyaṃ kiccaṃ karaṇīyaṃ. Kevalañhi akkhātārova tathāgatā. Tasmā tehi akkhātavasena ye paṭipannā dvīhi jhānehi jhāyino, te tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā mārabandhanā pamokkhantīti attho.

Desanāvasāne te bhikkhū arahatte patiṭṭhahiṃsu, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Pañcasatabhikkhuvatthu paṭhamaṃ.

XX. 1. The Eightfold Path is the best of Paths

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

273-276. The Eightfold Path is the best of Paths...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to five hundred monks.

The story goes that once upon a time the Teacher, after journeying through the country, returned to Sāvatthi and seated himself in the Hall of State. When he had taken his seat, these five hundred monks began to talk about the paths over which they had traveled, saying, “The path to such and such a village is smooth; to such and such a village, rough; to such and such a village, covered with pebbles; to such and such a village, without a pebble.” After this manner did they discuss the paths over which they had traveled. The Teacher, perceiving that they were ripe for Arahatship, went to the Hall of State, and seating himself in the seat already prepared for him, asked, “Monks, what is the present subject of discussion as you sit here together?” When they told him, he said, “Monks, this is a path foreign to our interests; one who is a monk should address himself to the Noble Path, for only by so doing can he obtain Release from all Suffering.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

273. The Eightfold Path is the best of Paths; the Four Sayings are the best of Truths;
Freedom from desire is the best of states; he that has eyes to see is the best of men.

274. This is the only Path; there is none other that leads to Purity of Vision;
Do ye enter upon this Path; so shall ye confound Māra.

275. Enter ye upon this Path, and ye shall make an end of suffering;
This is the Path which I preached so soon as I learned to remove the Arrow of Lust.

276. It is you who must put forth exertion; the Tathāgatas are only guides;
By meditation, those that enter upon this Path win release from the bondage of Māra.

  1. Text: N iii. 401-404.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này