Con đường giải thoát

Giải thoát là gì? Tâm hết trói buộc theo kinh Nikāya

Kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, nói toàn bộ Pháp và Luật chỉ có một vị là vị giải thoát. Giải thoát là tâm hết bị trói buộc bởi tham và vô minh, đi qua yếm ly và ly tham cho đến khi không còn chấp thủ.

Tóm lại: Pháp và Luật chỉ có một vị là vị giải thoát, như biển lớn chỉ có một vị mặn (AN 8.19, đoạn 16.1–16.2). Do yếm ly mà ly tham, do ly tham mà giải thoát, và trong giải thoát thì trí khởi lên rằng ta đã được giải thoát (SN 22.59, đoạn 11.2). Giải thoát là tâm không còn chấp thủ, như tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, được giải thoát khỏi các lậu hoặc (SN 22.59, đoạn 12.3).

Một vị duy nhất: Kinh Pahārāda (AN 8.19) nói Pháp và Luật có vị giải thoát

Nhiều người hỏi giải thoát là cảnh giới nào hay trạng thái kỳ lạ nào, và kinh trả lời bằng một hình ảnh giản dị “Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát.” (AN 8.19:16.1–16.2; Pāli: Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; evamevaṁ kho, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo ekaraso, vimuttiraso). Theo cách đọc của người viết, hình ảnh biển chỉ có một vị mặn nói rằng dù Pháp và Luật có nhiều lời dạy, mục đích của tất cả chỉ là một: vị giải thoát. Vì vậy, câu hỏi giải thoát là gì nên được trả lời từ mục đích này trước, chứ không từ những mô tả thần bí về sau.

Chuỗi yếm ly, ly tham, giải thoát: Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59) dạy gì

Kinh nói chuỗi dẫn đến giải thoát bằng ba chữ nối nhau “Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”.” (SN 22.59:11.2; Pāli: Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti). Theo cách đọc của người viết, yếm ly là thấy rõ năm uẩn, tức năm nhóm hợp thành con người, là vô thường, khổ và vô ngã nên không còn đắm đuối, ly tham là tham lắng xuống theo cái thấy ấy, và giải thoát là tâm không còn bị trói khi tham đã lắng.

Giải thoát là tâm không chấp thủ: Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59) kể kết quả

Kinh kể rằng trong khi lời dạy được nói lên thì tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát “Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.” (SN 22.59:12.3; Pāli: Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti). Theo cách đọc của người viết, câu này quan trọng vì nó đặt giải thoát vào tâm đang nghe pháp, chứ không đặt vào một nơi chốn hay một nghi lễ. Tâm giải thoát là tâm không còn chấp thủ, và không chấp thủ thì lậu hoặc không còn chỗ bám.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải và chiếc điện thoại cũ

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải giữ một chiếc điện thoại cũ đã hỏng pin vì tiếc số tiền đã bỏ ra, mỗi ngày chú bực bội vì máy tắt nguồn giữa chừng mà vẫn không đổi máy. Khi chú nhận ra sự tiếc nuối đang trói buộc chú vào một vật đã hết dùng được, chú cho máy cũ đi và mua máy khác vừa túi tiền, và sự nhẹ nhõm của chú đến từ việc không còn bị tiếc nuối trói buộc chứ không đến từ chiếc máy mới.

Hỏi nhanh

Giải thoát có phải là lên một cõi nào đó không?

Không, theo kinh thì giải thoát là tâm không còn chấp thủ, như tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc (SN 22.59, đoạn 12.3).

Yếm ly, ly tham, giải thoát liên hệ thế nào?

Do yếm ly mà ly tham, do ly tham mà giải thoát, và trong giải thoát thì trí khởi lên rằng ta đã được giải thoát (SN 22.59, đoạn 11.2).

Mục đích của toàn bộ Pháp và Luật là gì?

Pháp và Luật chỉ có một vị là vị giải thoát, như biển lớn chỉ có một vị mặn (AN 8.19, đoạn 16.1–16.2).

Câu chốt: Giải thoát là tâm hết trói buộc, đi qua yếm ly và ly tham cho đến khi không còn chấp thủ.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 8.19, Kinh Pahārāda (Pahārāda Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 8.19 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 8.19 Pāli.
  2. Tương Ưng Bộ 22.59, Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇa Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 22.59 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 22.59 Pāli.
  3. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chú Khải trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm