A-la-hán là gì? Bậc đã diệt tận lậu hoặc, không còn tái sanh
Bậc A-la-hán là bậc đã diệt tận lậu hoặc, biết rõ việc cần làm đã làm xong và không còn tái sanh. Kinh nói bậc ấy đứng ở vị trí cao nhất trong đời, sống an lạc ngay trong hiện tại, và không mô tả bậc ấy đi về đâu sau khi mất. Bài này trình bày đúng những điểm ấy, không thêm điều kinh không nói.
A-la-hán là gì theo Kinh A-la-hán
Chữ arahant chỉ bậc A-la-hán, tức bậc đã diệt tận lậu hoặc. Theo cách đọc của người viết, lậu hoặc là những ô nhiễm trong tâm như tham, sân và si, trói buộc con người vào vòng tái sanh. Khi bạn hỏi A-la-hán là gì, kinh trả lời bằng một tiến trình rõ ràng: do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát, và trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng vị ấy đã được giải thoát. Kinh nêu tiến trình ấy như sau: “Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.” (SN 22.76:2.2–2.3; Pāli: Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāti)
Câu kinh trên cho thấy A-la-hán không phải là một danh hiệu do người khác phong tặng, mà là trạng thái của một người đã làm xong việc cần làm. Bốn dấu hiệu trong câu kinh là sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, và không còn trở lui trạng thái này nữa. Theo cách đọc của người viết, bốn dấu hiệu này nói cùng một điều từ bốn góc nhìn: vòng tái sanh đã chấm dứt, đời sống tu tập đã viên mãn, không còn việc gì phải làm thêm để giải thoát, và vị ấy không quay lại trạng thái cũ nữa.
Người viết xin lưu ý rằng bài này chỉ dùng lời kinh để nói về bậc A-la-hán, không kể chuyện thần thông và không tưởng tượng thêm về đời sống của bậc ấy. Những gì kinh không nói, bài này sẽ nói thẳng là kinh không nói, để bạn không nhầm điều suy đoán thành lời kinh.
Vì sao Kinh A-la-hán đặt bậc A-la-hán ở vị trí cao nhất trong đời
Kinh A-la-hán không chỉ định nghĩa bậc A-la-hán, mà còn đặt bậc ấy vào vị trí cao nhất trong đời. Kinh nêu như sau: “Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư (Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.” (SN 22.76:2.4; Pāli: Yāvatā, bhikkhave, sattāvāsā, yāvatā bhavaggaṁ, ete aggā, ete seṭṭhā lokasmiṁ yadidaṁ arahantoti) Theo cách đọc của người viết, vị trí cao nhất ở đây không phải là địa vị xã hội hay quyền lực, mà là sự tối thượng về mặt giải thoát: bậc đã ra khỏi vòng trói buộc thì đứng trên mọi trạng thái còn bị trói buộc trong đời.
Điểm này giúp bạn hiểu vì sao A-la-hán là đích của con đường tu tập trong kinh. Người tu tập không hướng đến một phần thưởng bên ngoài, mà hướng đến sự chấm dứt các lậu hoặc ngay trong tâm. Khi các lậu hoặc đã diệt tận, không còn gì trói buộc vị ấy vào tái sanh nữa, và đó là lý do kinh gọi bậc ấy là tối thượng và tối thắng trong đời.
Năm vị đệ tử đầu tiên thành A-la-hán khi nghe Kinh Vô Ngã Tướng
Kinh Vô Ngã Tướng là bài kinh Đức Phật dạy cho nhóm năm vị đệ tử đầu tiên, và kinh ghi lại kết quả ngay trong lúc bài kinh được nói lên. Kinh nêu kết quả ấy như sau: “Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.” (SN 22.59:12.3; Pāli: Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti) Theo cách đọc của người viết, câu kinh này quan trọng vì nó cho thấy A-la-hán là điều có thật trong lịch sử của tăng đoàn thời Đức Phật, không phải là một hình ảnh trừu tượng chỉ để ngưỡng mộ. Năm vị đệ tử đầu tiên đã thành A-la-hán ngay khi nghe và thấu hiểu lời dạy về vô ngã.
Bạn cần hiểu đúng chữ vô ngã ở đây. Theo cách đọc của người viết, vô ngã không có nghĩa là con người không tồn tại trong đời sống hằng ngày, mà là năm uẩn tạo nên con người không có một cái ngã thường còn và làm chủ. Khi thấy rõ điều ấy, tâm không còn chấp thủ vào các uẩn, và các lậu hoặc được diệt tận. Theo cách đọc của người viết, đây là mạch nối giữa bài kinh Vô Ngã Tướng và định nghĩa A-la-hán: không chấp thủ thì giải thoát, và giải thoát khỏi chấp thủ thì lậu hoặc không còn chỗ bám.
Bạn có thể đọc toàn văn bài kinh ấy trong Kinh Vô Ngã Tướng, và tìm hiểu vị trí của bậc A-la-hán trong bốn tầng Thánh qua bài Bốn tầng Thánh.
Bậc A-la-hán sống ra sao sau khi đã giải thoát theo Kinh Người Giữ Giới
Một câu hỏi thường gặp là bậc A-la-hán sau khi đã giải thoát thì còn làm gì nữa không. Kinh Người Giữ Giới trả lời thẳng: với bậc A-la-hán, không còn việc gì phải làm nữa để giải thoát, và cũng không còn gì phải thêm vào công việc đã làm xong. Kinh nêu như sau: “Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.” (SN 22.122:5.3–5.4; Pāli: Natthi, khvāvuso, arahato uttari karaṇīyaṁ katassa vā paticayo; api ca ime dhammā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya ceva saṁvattanti satisampajaññāya cāti) Theo cách đọc của người viết, câu kinh này phân biệt rõ hai việc: việc phải làm để ra khỏi tái sanh thì đã xong, còn việc tu tập để sống an lạc ngay trong hiện tại thì vẫn tiếp tục.
Việc tu tập tiếp tục ấy không phải là tu thêm để đạt một quả vị cao hơn, vì quả vị A-la-hán đã là quả vị cuối cùng của con đường. Việc tu tập ấy đưa đến hiện tại lạc trú, tức sống an lạc ngay trong đời này, và chánh niệm tỉnh giác, tức biết rõ những gì đang diễn ra trong thân và tâm. Theo cách đọc của người viết, hình ảnh bậc A-la-hán trong kinh vì vậy rất bình thản: không vội vã, không tìm kiếm thêm, chỉ sống tỉnh thức trong từng ngày còn lại của đời sống.
Bậc A-la-hán còn luân hồi không theo Kinh A-la-hán
Câu trả lời ngắn gọn là không. Bậc A-la-hán không còn luân hồi, vì kinh nói rõ bậc ấy biết rằng sanh đã tận và không còn trở lui trạng thái này nữa. Theo cách đọc của người viết, luân hồi ở đây là dòng trôi lăn do vô minh và ái dẫn dắt, và khi lậu hoặc đã diệt tận thì dòng ấy không còn nhiên liệu để tiếp tục. Theo cách đọc của người viết, đây là điểm cốt lõi của toàn bài: A-la-hán là tên gọi của sự chấm dứt, không phải tên gọi của một cảnh giới mới để tiếp tục trôi lăn.
Các bài kinh được dẫn trong bài này thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc. Về việc bậc A-la-hán ở đâu sau khi mất, kinh Nikāya không nói điều này. Người viết nói thẳng điều ấy vì đề tài này dễ bị thêm thắt bằng suy đoán và tưởng tượng. Kinh chỉ nói bậc ấy không còn trở lui trạng thái tái sanh, và kinh dừng ở đó. Bạn đọc đến đây nên giữ đúng ranh giới ấy: tin điều kinh nói, và không khẳng định điều kinh không nói.
Một ví dụ đời thường về việc buông bỏ dần dần
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải là một người đã nghỉ hưu, và chú nhận ra bản thân hay bực bội mỗi khi con cháu làm trái ý chú. Chú bắt đầu tập nhìn lại cơn bực của bản thân trước khi nói, và nhiều lần chú chọn im lặng rồi nói lại bằng lời nhẹ nhàng hơn. Chú không tự nhận bản thân đã giải thoát, và người viết cũng không sánh việc tập buông bỏ nhỏ này với sự diệt tận lậu hoặc của bậc A-la-hán. Theo cách đọc của người viết, ví dụ này chỉ minh họa một hướng đi chung: khi tâm bớt chấp thủ vào ý muốn của bản thân, đời sống hằng ngày trở nên nhẹ nhàng hơn, dù con đường đến giải thoát trọn vẹn còn rất dài.
Hỏi nhanh
A-la-hán là gì?
Bậc A-la-hán là bậc đã diệt tận lậu hoặc, biết rõ sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa (SN 22.76, đoạn 2.2–2.3).
Bậc A-la-hán có thật không?
Kinh ghi rằng tâm của nhóm năm vị đệ tử đầu tiên được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ, ngay khi bài kinh Vô Ngã Tướng được nói lên: “Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.” (SN 22.59:12.3; Pāli: Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti)
Bậc A-la-hán còn luân hồi không?
Không. Kinh nói bậc ấy không còn trở lui trạng thái này nữa, nghĩa là vòng tái sanh đã chấm dứt đối với bậc ấy.
Bậc A-la-hán còn tu tập nữa không?
Bậc ấy không còn việc phải làm để giải thoát, nhưng sự tu tập vẫn đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác: “Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.” (SN 22.122:5.3–5.4; Pāli: Natthi, khvāvuso, arahato uttari karaṇīyaṁ katassa vā paticayo; api ca ime dhammā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya ceva saṁvattanti satisampajaññāya cāti)
Sau khi mất, bậc A-la-hán đi về đâu?
Kinh Nikāya không nói điều này. Kinh chỉ nói bậc ấy không còn trở lui trạng thái tái sanh, và người viết không thêm suy đoán về nơi chốn sau khi mất.
Câu chốt: Bậc A-la-hán là bậc đã làm xong việc cần làm, không còn tái sanh, và sống an lạc ngay trong hiện tại.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 22.76, Kinh A-la-hán (Arahanta Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 22.76 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 22.76 Pāli.
- Tương Ưng Bộ 22.59, Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇa Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 22.59 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 22.59 Pāli.
- Tương Ưng Bộ 22.122, Kinh Người Giữ Giới (Sīlavanta Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 22.122 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 22.122 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chú Khải trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.