Giới và đời sống cư sĩ

Lỡ phạm giới, giữ giới không nổi thì làm sao? Thưa lên người có trí rồi giữ gìn về sau

Lỡ phạm giới thì người Phật tử thấy lỗi là lỗi, thưa lên người có trí rồi giữ gìn về sau. Đó là cách Đức Phật dạy La-hầu-la trong kinh Giáo Giới La-hầu-la, thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Kinh không dạy cách xóa nghiệp đã tạo, bài này cũng không hứa điều đó.

Tóm lại: Người lỡ phạm giới thấy lỗi là lỗi, thưa lên các vị Đạo sư hay đồng Phạm hạnh có trí rồi phòng hộ trong tương lai (MN 61, đoạn 11.6–11.7). Việc thưa lên không xóa nghiệp đã tạo, kinh cũng không dạy nghi lễ sám hối, nên điều còn lại là giữ gìn từ hôm nay.

Phản tỉnh trước khi làm theo kinh Giáo Giới La-hầu-la

Đức Phật dạy La-hầu-la xem xét việc sắp làm, để biết việc ấy có đưa đến khổ đau cho bản thân và cho người khác hay không. “Cũng vậy, này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp.” (MN 61:8.4; Pāli: Evameva kho, rāhula, paccavekkhitvā paccavekkhitvā kāyena kammaṁ kattabbaṁ, paccavekkhitvā paccavekkhitvā vācāya kammaṁ kattabbaṁ, paccavekkhitvā paccavekkhitvā manasā kammaṁ kattabbaṁ) Chữ paccavekkhitvā trong tiếng Pāli nghĩa là phản tỉnh, xem xét lại. Theo cách đọc của người viết, thói quen phản tỉnh giúp người giữ giới nhận ra lỗi sớm, thay vì để lỗi lặp lại nhiều lần rồi mới hay.

Người giữ giới không nổi thường không phải vì không biết giới, mà vì chưa kịp dừng lại trước khi làm. Phản tỉnh là khoảng dừng đó. Theo cách đọc của người viết, tập phản tỉnh mỗi ngày giúp việc giữ giới bớt nặng nề, vì lỗi được thấy khi còn nhỏ.

Lỡ phạm giới rồi thì làm sao theo kinh Giáo Giới La-hầu-la

Kinh dạy thẳng cách xử lý khi đã lỡ làm sai. “Một thân nghiệp như vậy, này Rāhula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.” (MN 61:11.6–11.7; Pāli: akusalaṁ idaṁ kāyakammaṁ dukkhudrayaṁ dukkhavipākanti, evarūpaṁ te, rāhula, kāyakammaṁ satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu desetabbaṁ, vivaritabbaṁ, uttānīkātabbaṁ; desetvā vivaritvā uttānīkatvā āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjitabbaṁ) Chữ saṁvara trong tiếng Pāli nghĩa là phòng hộ, giữ gìn. Người phạm giới thưa lên người có trí, không giấu lỗi, rồi giữ gìn về sau. Kinh không nói việc thưa lên xóa được nghiệp đã tạo, và kinh cũng không dạy hình thức sám hối nghi lễ nào, nên bài này nói thẳng điều đó.

Giữ giới là món quà cho người khác theo kinh Nguồn Phước

Kinh Nguồn Phước cho thấy giữ giới không chỉ là việc của riêng người giữ. “Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh” (AN 8.39:3.6; Pāli: Pāṇātipātā paṭivirato, bhikkhave, ariyasāvako aparimāṇānaṁ sattānaṁ abhayaṁ deti, averaṁ deti, abyābajjhaṁ deti) Chữ ariyasāvaka trong tiếng Pāli nghĩa là Thánh đệ tử, vị đệ tử đã thấy Pháp. Theo cách đọc của người viết, nhớ rằng giữ giới tặng sự không sợ hãi cho người khác giúp người lỡ phạm giới có lý do quay lại giữ giới, thay vì bỏ hẳn vì nản.

Ví dụ đời thường về người lỡ phạm giới

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải giữ giới không sát sinh, một lần nóng giận chú đập chết con chuột trong nhà. Chú buồn và nghĩ rằng chú không giữ giới nổi nữa. Theo cách đọc của người viết, chú Khải có thể kể lỗi này với người thầy có trí mà chú tin cậy, rồi từ hôm nay giữ gìn hơn, thay vì bỏ hẳn việc giữ giới.

Hỏi nhanh

Lỡ phạm giới thì phải làm sao?

Thưa lên các vị Đạo sư hay đồng Phạm hạnh có trí rồi phòng hộ trong tương lai (MN 61, đoạn 11.6–11.7).

Thưa lên có xóa được nghiệp đã tạo không?

Kinh không nói việc thưa lên xóa nghiệp đã tạo, và kinh cũng không dạy hình thức sám hối nghi lễ. Điều kinh dạy là thấy lỗi rồi giữ gìn về sau.

Giữ giới mãi không nổi thì có nên bỏ hẳn không?

Không nên bỏ hẳn vì một lần lỡ. Phản tỉnh trước khi làm (MN 61, đoạn 8.4) giúp lỗi ít lặp lại, và giữ giới là món quà không sợ hãi cho người khác (AN 8.39, đoạn 3.6).

Có thể thưa lỗi với ai?

Kinh nói thưa lên các vị Đạo sư hay các vị đồng Phạm hạnh có trí, tức người có trí mà mình tin cậy.

Câu chốt: Thấy lỗi là lỗi, thưa lên người có trí rồi giữ gìn về sau, đó là đường đi thẳng mà kinh chỉ cho người lỡ phạm giới.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Trung Bộ 61, Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā (Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 61 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 61 Pāli.
  2. Tăng Chi Bộ 8.39, Kinh Nguồn Phước (Abhisanda Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 8.39 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 8.39 Pāli.
  3. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chú Khải trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm