Kinh Nguồn Phước
Abhisanda Sutta
Còn gọi là: Kinh Dòng Phước
Giữ một giới cũng là bố thí. Bài kinh này cho thấy năm giới là năm món quà lớn, trao cho vô lượng chúng sinh sự không sợ hãi.
Trước khi đọc kinh
Kinh Nguồn Phước nói về tám “dòng phước, dòng thiện” (puññābhisanda), những nguồn tuôn chảy đem lại an lạc, khả ái, lợi ích (đoạn 1.1). Ba dòng đầu là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (đoạn 1.3, 2.1, 3.1). Năm dòng còn lại là năm giới căn bản của người Phật tử.
Điều đặc biệt là Đức Phật gọi năm giới là năm sự bố thí, năm “đại thí” cổ xưa, không bị pha tạp, không bị người trí chê trách (đoạn 3.3). Người tránh sát sinh đã trao cho vô lượng chúng sinh sự không sợ hãi, không thù oán, không bị hại; và chính người ấy cũng được hưởng phần không sợ hãi, không thù oán vô lượng (đoạn 3.6–3.7). Bố thí tiền của thì có giới hạn, còn món quà an toàn của một người giữ giới thì không có giới hạn.
Cách nhìn này giúp người giữ giới thấy giới không chỉ là điều cấm. Mỗi ngày bạn không làm hại, không lấy của không cho, không lừa dối, không dùng chất say (đoạn 4.1–7.4), bạn đang lặng lẽ tặng cho những người quanh mình một khoảng an toàn để sống. Gia đình, đồng nghiệp, cả những người lạ đều được nhận món quà ấy.
Ý chính
- Tám dòng phước đem lại an lạc, lợi ích, đưa đến cõi trời (1.1).
- Ba dòng phước đầu: quy y Phật, Pháp, Tăng (1.3, 2.1, 3.1).
- Năm giới là năm đại thí cổ xưa, không bị người trí chê trách (3.3).
- Không sát sinh là trao sự không sợ hãi cho vô lượng chúng sinh (3.6).
- Người cho sự an toàn cũng được hưởng sự an toàn vô lượng (3.7).
- Tránh chất say là món quà thứ năm, dòng phước thứ tám (7.1–7.5).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- puññābhisanda
- dòng phước: nguồn phước tuôn chảy
- kusalābhisanda
- dòng thiện
- mahādāna
- đại thí: sự bố thí lớn
- abhaya
- không sợ hãi
- avera
- không thù oán
- abyābajjha
- không làm hại, không bị hại
- ariyasāvaka
- Thánh đệ tử
Kinh Nguồn Phước
1—Này các Tỷ-kheo, có tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc làm nhơn sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là tám?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử quy y Phật. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ nhất, là nguồn nước thiện … hạnh phúc, an lạc.“Aṭṭhime, bhikkhave, puññābhisandā kusalābhisandā sukhassāhārā sovaggikā sukhavipākā saggasaṁvattanikā, iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattanti. Katame aṭṭha? Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko, iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.“Mendicants, there are these eight kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness. What eight? Firstly, a noble disciple has gone for refuge to the Buddha. This is the first kind of overflowing merit …
2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử quy y Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ hai, là nguồn nước thiện … hạnh phúc, an lạc.Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo puññābhisando …pe… saṁvattati.Furthermore, a noble disciple has gone for refuge to the teaching. This is the second kind of overflowing merit …
3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử quy y Tăng. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ ba, là nguồn nước thiện … hạnh phúc, an lạc.
Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí này, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày, được biết là truyền thống cổ xưa, trước không tạp loạn, hiện tại không tạp loạn, tương lai không tạp loạn, không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ nhất, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày … không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ tư, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho … Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ hai, là đại bố thí, … Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ năm, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko, iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati. Pañcimāni, bhikkhave, dānāni mahādānāni aggaññāni rattaññāni vaṁsaññāni porāṇāni asaṅkiṇṇāni asaṅkiṇṇapubbāni, na saṅkiyanti na saṅkiyissanti, appaṭikuṭṭhāni samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Katamāni pañca? Idha, bhikkhave, ariyasāvako pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti. Pāṇātipātā paṭivirato, bhikkhave, ariyasāvako aparimāṇānaṁ sattānaṁ abhayaṁ deti, averaṁ deti, abyābajjhaṁ deti. Aparimāṇānaṁ sattānaṁ abhayaṁ datvā averaṁ datvā abyābajjhaṁ datvā aparimāṇassa abhayassa averassa abyābajjhassa bhāgī hoti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ dānaṁ mahādānaṁ aggaññaṁ rattaññaṁ vaṁsaññaṁ porāṇaṁ asaṅkiṇṇaṁ asaṅkiṇṇapubbaṁ, na saṅkiyati na saṅkiyissati, appaṭikuṭṭhaṁ samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko, iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.Furthermore, a noble disciple has gone for refuge to the Saṅgha. This is the third kind of overflowing merit … Mendicants, these five gifts are great, primordial, long-standing, customary, and traditional. They are uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them. What five? Firstly, a noble disciple gives up killing living creatures. By so doing they give to countless sentient beings the gift of freedom from fear, enmity, and ill will. And they themselves also enjoy unlimited freedom from fear, enmity, and ill will. This is the first gift that is a great offering, primordial, long-standing, customary, and traditional. It is uncorrupted, as it has been since the beginning. It’s not being corrupted now nor will it be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on it. This is the fourth kind of overflowing merit …
4–5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục … Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ ba, là đại bố thí, … Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ sáu, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti …pe… kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti …pe…Furthermore, a noble disciple gives up stealing. … This is the fifth kind of overflowing merit … Furthermore, a noble disciple gives up sexual misconduct. … This is the sixth kind of overflowing merit …
6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo … Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ tư, là đại bố thí, … Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ bảy, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti …pe…Furthermore, a noble disciple gives up lying. … This is the seventh kind of overflowing merit …
7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh Đệ Tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ năm, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày … không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ tám, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti. Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato, bhikkhave, ariyasāvako aparimāṇānaṁ sattānaṁ abhayaṁ deti averaṁ deti abyābajjhaṁ deti. Aparimāṇānaṁ sattānaṁ abhayaṁ datvā averaṁ datvā abyābajjhaṁ datvā, aparimāṇassa abhayassa averassa abyābajjhassa bhāgī hoti. Idaṁ, bhikkhave, pañcamaṁ dānaṁ mahādānaṁ aggaññaṁ rattaññaṁ vaṁsaññaṁ porāṇaṁ asaṅkiṇṇaṁ asaṅkiṇṇapubbaṁ, na saṅkiyati na saṅkiyissati, appaṭikuṭṭhaṁ samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Ayaṁ kho, bhikkhave, aṭṭhamo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko, iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.Furthermore, a noble disciple gives up intoxicants of beer, wine, and liquor. By so doing they give to countless sentient beings the gift of freedom from fear, enmity, and ill will. And they themselves also enjoy unlimited freedom from fear, enmity, and ill will. This is the fifth gift that is a great offering, primordial, long-standing, customary, and traditional. It is uncorrupted, as it has been since the beginning. It’s not being corrupted now nor will it be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on it. This is the eighth kind of overflowing merit …
8Này các Tỷ-kheo, có tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc làm nhơn sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.Ime kho, bhikkhave, aṭṭha puññābhisandā kusalābhisandā sukhassāhārā sovaggikā sukhavipākā saggasaṁvattanikā, iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattantī”ti. Navamaṁ.These are the eight kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 8.39 (Abhisanda Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 8.39 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.