Già, bệnh, chết và mất mát

Mơ thấy người thân đã mất là điềm gì? Kinh Nikāya không giải mộng

Kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, không giải mộng và không nói giấc mơ gặp người mất là điềm gì. Điều người đọc có thể làm khi tỉnh là giữ tâm hiền thiện và làm việc thiện.

Tóm lại: Kinh Nikāya không nói mơ thấy người thân đã mất là điềm gì. Trong bài này, kinh được dẫn là kinh Mộng Lớn, kể năm mộng lớn của Bồ-tát trước khi giác ngộ (AN 5.196, đoạn 1.1). Điều còn lại là thương nhớ trong tỉnh táo và làm việc thiện.

Kinh Nikāya có giải mộng hay không

Câu trả lời thẳng là kinh Nikāya không giải mộng. Không có câu kinh nào nói mơ thấy người thân đã mất là điềm lành hay điềm dữ, và cũng không có câu nào nói người mất về báo mộng cho người sống. Người đọc hỏi điềm gì vì thương nhớ và lo lắng, điều đó dễ hiểu, nhưng kinh Nikāya không nói giấc mơ ấy là điềm gì.

Năm mộng lớn trong kinh Mộng Lớn

Kinh Mộng Lớn kể năm giấc mộng lớn của Bồ-tát trước khi giác ngộ. “Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác được giác ngộ, này các Tỷ-kheo, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, có năm mộng lớn hiện ra.” (AN 5.196:1.1; Pāli: Tathāgatassa, bhikkhave, arahato sammāsambuddhassa pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato pañca mahāsupinā pāturahesuṁ) Chữ mahāsupina trong tiếng Pāli nghĩa là giấc mộng lớn, còn chữ bodhisatta nghĩa là vị Bồ-tát, người đang trên đường giác ngộ. Tóm ý phần sau của kinh, mỗi mộng trong năm mộng ấy được kinh chỉ ra ứng với một việc của Đức Phật khi Ngài giác ngộ, và kinh không áp cách đọc ấy cho giấc mơ gặp người mất.

Cuối kinh, Đức Phật nhắc lại năm mộng lớn ấy một lần nữa. “Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác được giác ngộ, trước khi thành Chánh Đẳng Giác, còn là Bồ-tát năm mộng lớn này được hiện ra.” (AN 5.196:11.1; Pāli: Tathāgatassa, bhikkhave, arahato sammāsambuddhassa pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato ime pañca mahāsupinā pāturahesunti) Theo cách đọc của người viết, kinh kể năm mộng này gắn với việc giác ngộ của Đức Phật, không phải để dạy người đọc tra ý nghĩa giấc mơ của bản thân.

Nhớ người đã khuất thì làm gì khi tỉnh

Giấc mơ qua đi, nỗi nhớ còn lại khi tỉnh mới là chỗ người đọc cần chăm sóc. Theo gợi ý của người viết, người đọc có thể làm việc thiện rồi hồi hướng, tức mời người thân đã khuất cùng tùy hỷ, là vui theo việc thiện của người khác, với việc thiện ấy, và giữ tâm hiền thiện trong đời sống hằng ngày. Theo cách đọc của người viết, làm việc thiện khi tỉnh giúp tâm người sống an ổn hơn là ngồi đoán ý nghĩa giấc mơ. Người đọc có thể đọc thêm bài về mất người thân tại Mất người thân, Phật dạy gì.

Nếu người đọc mất ngủ nhiều đêm hay đau buồn kéo dài, người đọc nên tìm người thân tin cậy hoặc bác sĩ để được giúp đỡ. Nỗi buồn mất người thân là chuyện của con người, không phải lỗi, và có người đồng hành sẽ nhẹ hơn.

Ví dụ đời thường về giấc mơ gặp người mất

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Thu mơ thấy mẹ đã mất ngồi ăn cơm cùng chị, sáng dậy chị vừa mừng vừa lo không biết mẹ muốn nhắn gì. Theo cách đọc của người viết, giấc mơ cho thấy chị còn thương nhớ mẹ, và điều chị có thể làm là sống hiền thiện rồi hồi hướng việc thiện ấy cho mẹ, thay vì lo lắng về điềm báo.

Hỏi nhanh

Mơ thấy người thân đã mất là điềm gì?

Kinh Nikāya không nói giấc mơ gặp người mất là điềm gì, và kinh cũng không giải mộng.

Kinh có kể giấc mơ nào không?

Kinh Mộng Lớn kể năm mộng lớn của Bồ-tát trước khi giác ngộ (AN 5.196, đoạn 1.1). Tóm ý phần sau của kinh, mỗi mộng được kinh chỉ ra ứng với một việc của Đức Phật khi Ngài giác ngộ.

Người mất có về báo mộng không?

Kinh không nói người mất về báo mộng. Bài này không khẳng định điều đó.

Nhớ người đã khuất thì nên làm gì?

Theo gợi ý của người viết, người đọc có thể làm việc thiện rồi hồi hướng cho người đã khuất, và giữ tâm hiền thiện khi tỉnh. Nếu mất ngủ hay đau buồn kéo dài, người đọc nên tìm người thân hoặc bác sĩ.

Câu chốt: Điều còn lại sau giấc mơ là thương nhớ trong tỉnh táo và làm việc thiện.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 5.196, Kinh Mộng Lớn (Mahāsupina Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.196 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.196 Pāli.
  2. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chị Thu trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm