Người ác vẫn sung sướng, người hiền vẫn khổ: luật nhân quả có sai không?
Ai cũng từng thấy một người làm ăn gian dối mà nhà cửa khang trang, và một người hiền lành làm lụng cả đời mà bệnh tật, nợ nần. Từ đó nảy ra câu hỏi: vậy nhân quả có thật không? Bài này đọc Đại kinh và Tiểu kinh Nghiệp phân biệt cùng Kinh Hạt Muối để thấy kinh không coi nhân quả là cái máy trả tiền từng việc, và cũng không coi nó là chuyện bịa.
Hai cảnh quen, hai kết luận vội
Ví dụ của người viết. Ông Sáu bán hàng gian dối nhiều năm mà nhà cửa khang trang, con cái đủ đầy. Cô Lan hiền lành, làm lụng nuôi mẹ bệnh, mà nợ nần chồng chất. Nhìn hai cảnh ấy, có người kết luận nhân quả chỉ là lời hù dọa. Có người đi hướng ngược lại: cô Lan chắc đã làm điều ác ở đâu đó nên mới khổ. Hai kết luận cùng mọc từ một nỗi bức xúc, và theo cách đọc của người viết, kinh Nikāya cẩn thận hơn cả hai. Nếu bạn muốn đọc về câu “gieo nhân nào gặt quả nấy” trước, có bài Gieo nhân nào gặt quả nấy, Phật nói thế nào; bài này đi sang một câu hỏi khác là vì sao ngoài đời nhân và quả trông không khớp.
Kinh trả lời trước câu hỏi vì sao người không giống người
Trong Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN 135), thanh niên Subha hỏi Đức Phật vì sao, cùng là người mà có kẻ thọ ngắn, người thọ dài; kẻ nhiều bệnh, người ít bệnh; kẻ nghèo, người giàu; kẻ trí tuệ kém, người trí tuệ (MN 135, đoạn 3.1–3.9). Ngài đáp: “Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu” (MN 135:4.1–4.3; Pāli: “Kammassakā, māṇava, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammappaṭisaraṇā. Kammaṁ satte vibhajati yadidaṁ— hīnappaṇītatāyā”ti.). Sau đó kinh ghép từng hành vi với từng khuynh hướng, ví dụ sát sanh là con đường đưa đến tuổi thọ ngắn (MN 135, đoạn 5.4). Theo cách đọc của người viết, kiểu nói con đường đưa đến cho thấy đây là khuynh hướng chung, chưa phải phép tính áp được cho từng người. Bài kế tiếp trong Trung Bộ nói rõ điều đó.
Bốn hạng người trong Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt
Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN 136) mở đầu từ một cuộc trao đổi nhỏ: một du sĩ ngoại đạo hỏi Tôn giả Samiddhi về nghiệp, và Tôn giả đáp một chiều. Đức Phật nói câu hỏi ấy cần được phân tích (MN 136, đoạn 5.3), rồi nêu: “Này Ānanda, có bốn loại người này có mặt ở đời” (MN 136:8.1; Pāli: “Cattārome, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.). Bốn hạng ấy là: người sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, có tà kiến mà sau khi chết sinh vào cõi dữ; cũng hạng ấy mà sinh vào cõi lành; người từ bỏ các việc ác, có chánh kiến mà sinh vào cõi lành; và cũng hạng ấy mà sinh vào cõi dữ (đoạn 8.3–8.10). Từ đây bài gọi gọn các cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục là cõi dữ, và thiện thú, Thiên giới là cõi lành. Hạng thứ hai và thứ tư là hai hạng làm ta thắc mắc.
Bài đi theo lời kinh, gồm cả phần nói về đời sau. Ai chưa chắc về đời sau vẫn đọc tiếp được, vì phần chính bên dưới nói về cách ta kết luận từ những gì mình thấy.
Đức Phật chấp nhận điều gì, từ chối điều gì
Kinh kể có những Sa-môn, Bà-la-môn nói rằng họ đã thấy một trong bốn hạng người ấy, rồi từ chỗ mình thấy mà rút ra kết luận chung (MN 136, đoạn 9.1–12.7). Đức Phật tách lời họ thành từng mảnh, chấp nhận mảnh này, từ chối mảnh kia. Với người nói có ác nghiệp và có quả của nó, kinh ghi lời Ngài: “Ở đây, này Ānanda, Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: ‘Chắc chắn có ác nghiệp, có quả báo ác nghiệp’. Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy” (MN 136:13.1–13.2; Pāli: Tatrānanda, yvāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evamāha: ‘atthi kira, bho, pāpakāni kammāni, atthi duccaritassa vipāko’ti idamassa anujānāmi;). Với người nói ngược lại là không có ác nghiệp, Ngài không chấp nhận (MN 136, đoạn 14.1–14.2). Về vế còn lại, điều người ấy đã thấy, là có kẻ ác sinh vào cõi lành, thì Ngài ghi nhận: “Và vị ấy nói như sau: ‘Tôi đã thấy ở đây có người sát sanh, lấy của không cho … có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, tôi thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này’. Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy” (MN 136:14.3–14.4; Pāli: yañca kho so evamāha: ‘amāhaṁ puggalaṁ addasaṁ—idha pāṇātipātiṁ adinnādāyiṁ …pe… micchādiṭṭhiṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā passāmi sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannan’ti idamassa anujānāmi;). Kinh tách hai việc: điều đã thấy thì ghi nhận, còn kết luận chung thì không. Điều Ngài từ chối là bước nhảy từ việc mình đã thấy một người sang kết luận rằng tất cả đều như vậy: “Còn nếu vị ấy nói như sau: ‘Chắc chắn tất cả những ai sát sanh, lấy của không cho … tất cả sau khi thân hoại mạng chung, họ đều sanh vào thiện thú Thiên giới, cõi đời này’; như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy” (MN 136:14.5–14.6; Pāli: yañca kho so evamāha: ‘yo kira, bho, pāṇātipātī adinnādāyī …pe… micchādiṭṭhi, sabbo so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī’ti idamassa nānujānāmi;). Còn lý do, kinh nêu ngắn gọn: “Vì cớ sao? Khác như vậy, này Ānanda, là trí của Như Lai về Đại phân biệt về nghiệp” (MN 136:14.10–14.11; Pāli: Taṁ kissa hetu? Aññathā hi, ānanda, tathāgatassa mahākammavibhaṅge ñāṇaṁ hoti.).
Theo cách đọc của người viết, kinh dạy một kỷ luật khi suy nghĩ: một vài trường hợp ta thấy, kể cả thấy tận mắt, chưa đủ để kết luận cả quy luật. Ông Sáu khá giả không chứng minh ác không có quả. Cô Lan khổ cũng không chứng minh cô đã làm ác. Cả hai chỉ là một lát cắt của một dòng dài hơn.
Vì sao có người ác mà vẫn sinh vào cõi lành
Rồi Đức Phật giải thích từng hạng. Với người làm ác mà sinh vào cõi lành, kinh nêu ba lối có thể xảy ra: “Hoặc là một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do người ấy làm lúc trước, hay một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một chánh kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt” (MN 136:18.2; Pāli: pubbe vāssa taṁ kataṁ hoti kalyāṇakammaṁ sukhavedanīyaṁ, pacchā vāssa taṁ kataṁ hoti kalyāṇakammaṁ sukhavedanīyaṁ, maraṇakāle vāssa hoti sammādiṭṭhi samattā samādinnā.). Đó là nghiệp lành làm trước, nghiệp lành làm sau, hoặc chánh kiến lúc lâm chung (MN 136, đoạn 18.2). Nhưng phần ác họ đã làm không biến mất: “Và ai ở đây sát sanh, lấy của không cho … có tà kiến, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác” (MN 136:18.4; Pāli: Yañca kho so idha pāṇātipātī hoti adinnādāyī hoti …pe… micchādiṭṭhi hoti tassa diṭṭheva dhamme vipākaṁ paṭisaṁvedeti upapajja vā apare vā pariyāye.).
Với hạng thứ tư, người làm lành mà sinh vào cõi dữ, kinh nói theo chiều ngược lại: “Hoặc là một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm từ trước, hay một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một tà kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt” (MN 136:20.2; Pāli: pubbe vāssa taṁ kataṁ hoti pāpakammaṁ dukkhavedanīyaṁ, pacchā vāssa taṁ kataṁ hoti pāpakammaṁ dukkhavedanīyaṁ, maraṇakāle vāssa hoti micchādiṭṭhi samattā samādinnā.). Theo cách đọc của người viết, bức tranh ở đây không phải “làm gì nhận nấy ngay”, mà là một dòng nhiều lớp, có nghiệp làm trước, nghiệp làm sau và tâm lúc cuối. Chính vì có từng ấy khả năng mà từ bên ngoài, không ai biết được một người đang chịu hay đang hưởng phần nghiệp nào.
Cùng một việc, quả không giống nhau
Kinh Hạt Muối (AN 3.100) thêm một chiều nữa. Đức Phật nói: “Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: ‘Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy’. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt” (AN 3.100:1.1–1.2; Pāli: “Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathāyaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathā taṁ paṭisaṁvediyatī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso na hoti, okāso na paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya.). Kinh so hai người cùng làm một việc ác nhỏ: người chưa tu tập thân, giới, tâm, tuệ thì việc ấy đưa họ vào cảnh khổ nặng; người đã tu tập thì chỉ cảm thọ ngay trong hiện tại, đến mức chút ít cũng không còn thấy (AN 3.100, đoạn 1.5–1.6, 2.2, 3.2). Ví dụ nắm muối bỏ vào chén nước nhỏ khác với bỏ vào sông Hằng nằm ở đoạn 4.1–4.12; chi tiết đã có trong bài Nghiệp có chuyển được không. Ở đây chỉ cần giữ ý: quả không phải là hàm số một biến của hành vi, nó còn tùy người nhận đã tu tập đến đâu.
Đừng đọc ngược từ nỗi khổ sang tội lỗi
Có hai lời kinh chặn việc này. Thứ nhất là Kinh Sīvaka (SN 36.21): du sĩ Sīvaka hỏi về chủ trương rằng mọi cảm thọ đều do việc đã làm trong quá khứ. Đức Phật kể các nguồn khác của cảm thọ theo bản Minh Châu: mật, đàm, gió, sự hội hợp của chúng, thời tiết, nghịch vận, những tác động bất ngờ từ bên ngoài. Về nghiệp, Ngài chỉ nói: “Do quả dị thục của nghiệp, này Siivaka, ở đây, một số cảm thọ được khởi lên” (SN 36.21:3.7; Pāli: kammavipākajānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.). Ngài gọi chủ trương rằng mọi cảm thọ đều do nghiệp cũ là sai (SN 36.21, đoạn 2.4–2.7, 3.12–3.15). Thứ hai, Tăng Chi Bộ 4.77 xếp quả dị thục của nghiệp vào bốn điều không nên cố nghĩ cho tới cùng, vì nghĩ đến có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ (AN 4.77).
Theo cách đọc của người viết, hai lời kinh ấy có nghĩa là: nhìn nỗi khổ của ai đó rồi suy ra người ấy đã làm gì là việc kinh không làm, và cũng không khuyến khích ta làm. Bệnh của mẹ cô Lan, hay nợ của cô, có thể đến từ nhiều nguồn khác ngoài nghiệp cũ.
Vậy nhân quả hiểu cho đúng là gì
Gom lại, theo cách đọc của người viết, có ba điều. Một, ác nghiệp có quả, và Đức Phật chấp nhận điều này (MN 136). Hai, quả đến theo một dòng nhiều lớp, không đều và không tính trước được (MN 136, AN 3.100, AN 4.77). Ba, vì thế việc đáng làm không phải là soi nhân quả của người khác để kết tội hay để nản lòng, mà là nhìn vào phần của chính mình, bởi các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp mình (MN 135, đoạn 4.1). Quay lại hai cảnh đầu bài: kinh không bảo ta kết luận gì về ông Sáu hay cô Lan, kinh chỉ bảo ta đừng vội kết luận, và hỏi mình đang gieo gì.
Một gợi ý nhỏ
Lần tới thấy người gian mà sướng hay người hiền mà khổ, bạn thử dừng ở câu: “mình mới thấy một lát cắt”. Rồi hỏi mình một câu hướng vào trong: hôm nay việc nào của mình, nếu lặp lại nhiều năm, mình muốn nó thành khuynh hướng? Muốn đọc thêm, mời bạn xem bài Nghiệp chướng có thật không và Nghiệp là gì, có phải số mệnh không.
Hỏi nhanh
Người ác sống sung sướng thì luật nhân quả có sai không?
Theo MN 136, Đức Phật không chấp nhận kết luận “nhân quả sai”, cũng không chấp nhận kết luận “ai làm ác cũng sinh vào cõi dữ”. Quả có thể đến từ nghiệp làm trước, nghiệp làm sau hoặc tâm lúc lâm chung (MN 136, đoạn 18.2), và phần ác đã làm vẫn phải lãnh ngay hiện tại hay trong một đời khác (đoạn 18.4).
Người hiền gặp khổ có phải vì đã làm ác ở đời trước không?
Không thể kết luận như vậy từ bên ngoài. SN 36.21 nêu nhiều nguồn khác của cảm thọ, quả của nghiệp chỉ là một nguồn, và gọi chủ trương mọi cảm thọ đều do nghiệp cũ là sai. AN 4.77 xếp quả dị thục của nghiệp vào những điều không nên cố nghĩ cho tới cùng.
Làm một việc ác thì chắc chắn nhận đúng quả tương ứng chứ?
AN 3.100 nói nếu ai làm nghiệp thế nào cũng cảm thọ y như thế ấy thì không có đời sống phạm hạnh. Cùng một việc ác nhỏ, người chưa tu tập thì chịu nặng, người đã tu tập thân, giới, tâm, tuệ thì cảm thọ quả ngay trong hiện tại, đến mức chút ít cũng không còn thấy về sau (AN 3.100, đoạn 1.6, 2.2, 3.2).
Câu “ở hiền gặp lành” có trong kinh không?
Người viết không thấy câu nguyên văn này trong các kinh bài này dẫn; đó là cách nói dân gian. Kinh nói có thiện nghiệp và có quả của nó, nhưng không hứa quả lành đến ngay, đều đặn hay vừa đúng lúc ta mong.
Câu chốt: Nhân quả trong kinh không phải cái máy trả tiền từng việc; nó là một dòng nhiều lớp, nên điều đáng làm là nhìn vào việc mình đang làm hôm nay, chứ không nhìn số phận người khác để kết án hay để nản lòng.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 136, Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt (Mahākammavibhaṅga Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 136 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 136 Pāli.
- Trung Bộ 135, Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (Cūḷakammavibhaṅga Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 135 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 135 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 3.100, Kinh Hạt Muối (Loṇakapalla Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 3.100 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 3.100 Pāli.
- Tương Ưng Bộ 36.21, Kinh Sīvaka, bản HT. Thích Minh Châu, SN 36.21 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 36.21 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 4.77, Kinh Không Thể Nghĩ Được (Acinteyya Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 4.77 trên SuttaCentral.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu (giữ cả chính tả tên riêng như “Siivaka”), kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận; hai nhân vật ông Sáu và cô Lan là ví dụ của người viết, không có trong kinh. Trong bài, cõi dữ là cách gọn của người viết cho cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục; cõi lành là cách gọn cho thiện thú, Thiên giới, cõi đời này (theo bản Minh Châu).