Câu này Phật có nói không?

“Đừng sống trong quá khứ, đừng mơ tưởng tương lai”: Trung Bộ 131

Đây là một trong số ít câu “Phật dạy” trên mạng có gốc rõ ràng trong kinh. Nhưng kinh giải thích từng chữ, và lời giải thích ấy khác khá nhiều với cách hiểu “quên quá khứ, mặc kệ tương lai”.

Tóm lại: Câu này có gốc thật: bài kệ mở đầu Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Trung Bộ 131), “Đừng chạy theo những gì đã qua, đừng mong ngóng điều chưa tới.” Bản lưu hành gần đúng, nhưng kinh tự giải thích: “chạy theo quá khứ” là nuôi niềm vui thích nơi năm uẩn của mình thuở trước; “sống với hiện tại” là thấy rõ pháp đang có mặt mà không bị cuốn đi. Và bài kệ kết bằng lời thúc giục tinh cần, không phải “sống cho hôm nay”.

Bài kệ trong Trung Bộ 131

Tại tịnh xá của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) ở Xá-vệ (Sāvatthī), Đức Phật đọc cho các Tỷ-kheo bài kệ “người có một đêm hiền thiện”:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,

Trung Bộ 131, kệ 3.1–3.8

Nguyên văn hai dòng đầu: Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ. Chữ anvāgameti là “đi theo sau, chạy theo”; chữ paṭikaṅkhati là “mong ngóng, trông chờ”. Câu lưu hành “đừng sống trong quá khứ, đừng mơ tưởng tương lai” là một cách nói khá sát.

Kinh giải thích “chạy theo quá khứ” là gì

Điều đặc biệt của Trung Bộ 131 là Đức Phật tự giải nghĩa từng câu. Chạy theo quá khứ là khi một người nghĩ “thuở trước ta có sắc như thế này, có cảm thọ như thế này…” rồi nuôi dưỡng niềm vui thích (nandi) nơi đó (đoạn 4.2). Mong ngóng tương lai cũng vậy: nghĩ “mai sau mong ta có sắc như thế này” và nuôi niềm vui thích nơi đó (đoạn 6.2).

Vậy điều bị khuyên tránh không phải là việc nhớ hay việc tính, mà là sự bám víu, sự ngậm nhấm. Còn “bị cuốn đi giữa các pháp hiện tại” là khi xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tự ngã (đoạn 8.3–8.8). Sống với hiện tại theo kinh vì thế không phải là “tập trung vào giây phút này” một cách chung chung, mà là thấy rõ (vipassati) điều đang xảy ra mà không nhận nó là “ta”.

Nửa sau bài kệ ít được trích

Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,

Trung Bộ 131, kệ 3.9–3.12

Bài kệ không dạy buông thả kiểu “sống cho hôm nay, mai tính sau”. Ngược lại, chính vì chỉ có hôm nay chắc chắn, nên việc lành phải làm ngay hôm nay. Người sống như vậy, “ngày đêm không biếng nhác”, mới được gọi là người có một đêm hiền thiện (kệ 3.13–3.15).

Nhớ lại và tính trước vẫn cần

Kinh không cấm nhìn lại. Trong Trung Bộ 61, Đức Phật dạy Ngài La-hầu-la (Rāhula) soi xét một việc trước khi làm, trong khi làm, và sau khi làm; nếu thấy việc đã làm gây hại thì nói ra với bậc thầy hay bạn đồng tu, rồi “giữ gìn sự phòng hộ trong tương lai” (đoạn 9.1–11.7). Nhìn lại để học và tính trước để phòng hộ là chánh niệm; ngậm nhấm và mơ màng mới là “chạy theo”.

Phần nào có trong kinh, phần nào không

  • Có trong kinh: đừng chạy theo quá khứ, đừng mong ngóng tương lai, thấy rõ pháp hiện tại (MN 131, kệ 3.1–3.8).
  • Diễn ý: “đừng sống trong quá khứ, đừng mơ tưởng tương lai”, khá sát nguyên văn.
  • Không tìm thấy: ý “quên hết chuyện cũ”, “không cần lo xa”, hay “sống cho hôm nay”. Kinh nói ngược lại: hãy tinh cần ngay hôm nay.

Một ví dụ

Một chị ngồi ăn tối với gia đình nhưng đầu óc trở lại cuộc cãi nhau hồi sáng ở công ty, rồi nhảy sang nỗi lo đợt đánh giá tháng sau. Bữa cơm trôi qua mà chị không nhớ mình đã ăn gì. Bài kệ không bảo chị quên chuyện sáng nay hay bỏ mặc tháng sau; tối nay chị có thể ghi ra hai dòng cần rút kinh nghiệm và một việc cần chuẩn bị. Điều bài kệ mời là: trong bữa cơm này, hãy có mặt với bữa cơm này.

Một gợi ý nhỏ

Mỗi ngày, bạn thử chọn một việc thường làm, như rửa chén hay đi bộ đến bến xe, và làm trọn việc ấy với sự chú ý. Khi tâm trôi về hôm qua hay ngày mai, chỉ cần biết và nhẹ nhàng quay lại. Đó là bước đầu của niệm xứ, được dạy kỹ trong Kinh Niệm Xứ.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Trung Bộ 131, Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta), MN 131 trên SuttaCentral.
  2. Trung Bộ 61, Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở rừng Ambalaṭṭhikā (Ambalaṭṭhikārāhulovāda Sutta), MN 61 trên SuttaCentral.
  3. Trung Bộ 10, Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta), MN 10 trên SuttaCentral.
  4. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  5. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh