Phật Thuyết Như Vậy 58 · Iti 58

Kinh Ái

Taṇhā Sutta

Kinh Ái nêu ba khát ái là dục ái, hữu ái và phi hữu ái, rồi đối chiếu người còn bị ái trói buộc với người đã đoạn được ái và đến bờ bên kia.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Kinh Ái nêu ba khát ái là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.
  • Người bị ái triền trói buộc thì đi luân chuyển từ sanh đến chết.
  • Người đoạn được ái và ly ái thì đến bờ bên kia và chứng đạt đoạn tận các lậu hoặc.

Kinh Ái nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, thuộc Tiểu Bộ, một trong năm bộ Nikāya (năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli). Bài kinh mang số hiệu Iti 58 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba khát ái. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.4, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.

Chữ taṇhā, khát ái, là tên gọi chung cho ba khát ái mà kinh nêu, gồm dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Kinh không kể một câu chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi thẳng vào ba khát ái rồi đối chiếu hai hướng đi trong bài kệ. Cấu trúc ngắn gọn này giúp bạn nắm được ý chính ngay từ lần đọc đầu.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
taṇhā
khát ái
kāmataṇhā
dục ái
bhavataṇhā
hữu ái
vibhavataṇhā
phi hữu ái
bhikkhave
này các Tỷ-kheo
saṁsāraṁ
vòng luân chuyển
āsavakkhayan
đoạn tận các lậu hoặc
Navamaṁ
dấu kết, kinh thứ chín trong phẩm

Kinh Ái

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba khát ái này. Thế nào là ba? Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, có ba khát ái này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tisso imā, bhikkhave, taṇhā. Katamā tisso? Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā— imā kho, bhikkhave, tisso taṇhā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three cravings. What three? Craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence. These are the three cravings.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Trói buộc bởi ái triền,
Tâm ưa hữu, phi hữu,
Bị ma triền trói buộc,
Chúng sanh ấy không được,
An ổn khỏi ách nạn.
Chúng sanh đi luân chuyển,
Đến sanh rồi đến chết.
Những ai đoạn được ái,
Ly ái hữu, phi hữu,
Họ đến bờ bên kia,
Trong thế giới hiện tại,
Họ đã chứng đạt được,
Các lậu hoặc đoạn tận.
“Taṇhāyogena saṁyuttā,
rattacittā bhavābhave;
Te yogayuttā mārassa,
ayogakkhemino janā;
Sattā gacchanti saṁsāraṁ,
jātīmaraṇagāmino.
Ye ca taṇhaṁ pahantvāna,
vītataṇhā bhavābhave;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
“Bound by craving, minds full of desire for rebirth in this or that state, yoked by Māra’s yoke, these people find no sanctuary from the yoke. Sentient beings continue to transmigrate, with ongoing birth and death. Those who have given up craving, rid of craving for rebirth in this or that state, they in this world have truly crossed over, having reached the ending of defilements.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Navamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu ba khát ái là dục ái, hữu ái và phi hữu ái, và bài kệ nói người bị ái triền trói buộc thì không được an ổn khỏi ách nạn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, trói buộc ở đây không chỉ là một cảm giác thoáng qua mà là tình trạng tâm còn bám chặt, nên người ấy tiếp tục đi luân chuyển từ sanh đến chết như bài kệ nêu.

Bài kệ đối chiếu hướng ngược lại, khi người đoạn được ái và ly ái đối với hữu và phi hữu thì đến bờ bên kia trong thế giới hiện tại và chứng đạt đoạn tận các lậu hoặc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bờ bên kia ở đây là hình ảnh cho sự thoát khỏi trói buộc, còn đoạn tận các lậu hoặc là điểm mà bài kệ đặt ở cuối hướng đi ấy.

Ví dụ của người viết (không phải lời kinh): một người làm vườn cứ mong cây ra trái sớm hơn mùa, rồi khi cây chưa ra trái thì bồn chồn, khi cây ra trái thì lại mong trái to hơn, và vòng mong muốn ấy cứ tiếp nối mà không dừng ở một kết quả nào.

Kinh không dạy một nghi lễ để đoạn ái và bài này cũng không thêm điều ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thấy rõ khát ái đang hoạt động là điều giúp người ấy không nuôi nó thêm, còn việc đoạn tận là hướng đi mà bài kệ đặt ở cuối.

Đoạn được ái là hướng đi đến bờ bên kia.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 58 (Taṇhā Sutta, Itivuttaka 58). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 58 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp