Phật Thuyết Như Vậy 40 · Iti 40

Kinh Minh

Vijjā Sutta

Bài kinh đối chiếu hai con đường mở đầu khác nhau. Vô minh đi trước các pháp bất thiện, còn minh đi trước các pháp thiện cùng với xấu hổ và sợ hãi.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Vô minh đi trước, làm cho các pháp bất thiện đạt được, tiếp theo là không xấu hổ và không sợ hãi.
  • Minh đi trước, làm cho các pháp thiện đạt được, tiếp theo là xấu hổ và sợ hãi.
  • Từ bỏ dục tham và vô minh để minh sanh khởi và từ bỏ mọi ác thú.

Bài kinh thuộc bộ Phật Thuyết Như Vậy, nằm trong Tiểu Bộ của tạng Kinh. Kinh được nói với các vị Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia, và mở đầu bằng lời ghi nhận rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến. Nội dung chính nằm ở đoạn 1.1 đến đoạn 2.4, nơi Đức Phật nêu hai chiều hướng đối lập: vô minh đi trước pháp bất thiện, minh đi trước pháp thiện.

Sau phần văn xuôi, đoạn 3.1 đến đoạn 5.4 trình bày lại ý chính bằng kệ ngôn, nêu gốc rễ của ác thú và lời khuyên từ bỏ dục tham cùng vô minh. Đoạn 6.1 đến đoạn 6.3 khép lại bằng lời ghi nhận ý nghĩa đã được nói đến. Toàn bài giữ một mạch rõ ràng: cái gì đi trước sẽ dẫn theo những pháp tương ứng sau đó.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
<i>avijjā</i>
vô minh
<i>vijjā</i>
minh
<i>ahirikaṁ</i>
không xấu hổ
<i>anottappaṁ</i>
không sợ hãi
<i>hirottappaṁ</i>
xấu hổ và sợ hãi
<i>akusalānaṁ</i>
pháp bất thiện
<i>kusalānaṁ</i>
pháp thiện
<i>duggatiyo</i>
các ác thú
<i>apāyaṁ</i>
đọa xứ

Kinh Minh

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, vô minh đi trước, làm cho đạt được các pháp bất thiện; tiếp theo là không xấu hổ, không sợ hãi. Này các Tỷ-kheo, minh đi trước, làm cho đạt được các pháp thiện; tiếp theo là xấu hổ và sợ hãi.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Avijjā, bhikkhave, pubbaṅgamā akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā anvadeva ahirikaṁ anottappaṁ; vijjā ca kho, bhikkhave, pubbaṅgamā kusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā anvadeva hirottappan”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, ignorance leads the attainment of unskillful qualities, with lack of conscience and prudence following along. Knowledge leads the attainment of skillful qualities, with conscience and prudence following along.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Phàm có ác thú gì,
Đời này và đời sau,
Tất cả do vô minh,
Làm gốc, làm cội rễ,
Dục tham được cất chứa,
Vì rằng kẻ ác dục,
Không xấu hổ, không kính,
Từ đó nó khởi ác,
Do vậy đi đọa xứ.
Vậy hãy nên từ bỏ,
Dục tham và vô minh,
Muốn minh được sanh khởi,
Tỷ-kheo cần từ bỏ
Tất cả mọi ác thú.
“Yā kācimā duggatiyo,
asmiṁ loke paramhi ca;
Avijjāmūlikā sabbā,
icchālobhasamussayā.
Yato ca hoti pāpiccho,
ahirīko anādaro;
Tato pāpaṁ pasavati,
apāyaṁ tena gacchati.
Tasmā chandañca lobhañca,
avijjañca virājayaṁ;
Vijjaṁ uppādayaṁ bhikkhu,
sabbā duggatiyo jahe”ti.
“Bad destinies of whatever kind, in this world or the next, are all rooted in ignorance, compounded of greed and desire. Since one of corrupt wishes is unconscientious, lacking regard for others, they brim with much wickedness, which sends them to a place of loss. Therefore, dispelling desire and greed and ignorance, a mendicant arousing knowledge would abandon all bad destinies.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Tatiyaṁ. Paṭhamabhāṇavāro.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh đặt vô minh và minh ở vị trí đi trước. Vô minh đi trước thì các pháp bất thiện đạt được, tiếp theo là không xấu hổ và không sợ hãi. Minh đi trước thì các pháp thiện đạt được, tiếp theo là xấu hổ và sợ hãi. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, vị trí đi trước ở đây cho thấy điểm khởi đầu quyết định chiều hướng của những gì theo sau.

Kệ ngôn nêu rõ hơn chiều hướng xấu: các ác thú đều có vô minh làm gốc, dục tham được cất chứa, rồi từ đó ác được tạo ra và dẫn đến đọa xứ. Chiều hướng lành được nêu ngược lại: từ bỏ dục tham và vô minh để minh sanh khởi và từ bỏ mọi ác thú. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hai chiều hướng này giúp bạn nhận ra đời sống của bạn đang đi theo hướng nào.

Ví dụ đời thường (không phải lời kinh): chị Lan định nói dối để tránh rắc rối, nhưng cảm giác xấu hổ và e ngại trước điều sai khiến chị dừng lại và nói đúng sự thật. Ví dụ này chỉ minh họa xấu hổ và sợ hãi đi kèm với hướng thiện, không thêm ý mới vào lời kinh.

Với bạn đọc, bài kinh không dạy chạy theo kết quả mà dạy nhìn lại điểm khởi đầu. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, khi vô minh và dục tham được nhận ra sớm, bạn có cơ hội chọn hướng thiện trước khi ác được tạo ra.

Minh đi trước thì pháp thiện theo sau, vô minh đi trước thì pháp bất thiện theo sau, đó là điểm chính của bài kinh.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 40 (Vijjā Sutta, Itivuttaka 40). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 40 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp