Kinh Giới Thứ Hai
Dutiyasīla Sutta
Kinh Giới Thứ Hai nói về hai pháp: người đầy đủ giới hiền thiện và kiến hiền thiện thì tương xứng được sanh lên thiên giới.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Người đầy đủ hai pháp là giới hiền thiện và kiến hiền thiện thì tương xứng được sanh lên thiên giới.
- Bài kệ nhắc lại rằng người đầy đủ giới hiền thiện và kiến hiền thiện, khi thân hoại mạng chung, với chánh trí tuệ, sẽ được sanh vào cảnh giới cõi trời.
- Kinh này nêu hai pháp: giới hiền thiện và kiến hiền thiện.
Kinh Giới Thứ Hai thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu hai pháp là giới (sīla: nếp sống giữ gìn) và kiến (diṭṭhi: quan điểm, cách thấy), bằng một câu ngắn rồi lặp lại câu ấy để nhấn mạnh. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi nêu hai pháp, và kết bằng bài kệ ngắn nhắc lại hai pháp và quả của chúng.
Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1 và 2 (mã đoạn SuttaCentral 1.1 đến 2.6) nêu hai pháp và quả tương xứng của chúng, với câu nêu hai pháp được lặp lại trong phần văn xuôi. Phần kệ ở đoạn 3 (mã đoạn SuttaCentral 3.1 đến 3.6) nhắc lại hai pháp ấy theo từng câu ngắn, rồi nói về quả sau khi thân hoại mạng chung.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sīla
- giới, nếp sống giữ gìn
- diṭṭhi
- kiến, quan điểm, cách thấy
- bhaddaka
- hiền thiện, tốt lành
- bhaddikā
- hiền thiện, thuộc về điều tốt lành
- sagga
- cõi trời, cảnh giới chư Thiên
- sappañña
- người có trí tuệ thiện lành
- puggala
- người, cá nhân
- bhikkhu
- Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
- yathābhata
- tương xứng, như đã mang đến
- nikkhitta
- được đặt vào, được đưa vào
Kinh Giới Thứ Hai
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Đầy đủ hai pháp, này các Tỷ-kheo, một người như vậy tương xứng được sanh lên thiên giới. Thế nào là hai? Giới hiền thiện và Kiến hiền thiện. Đầy đủ hai pháp này, này các Tỷ-kheo, một người như vậy tương xứng được sanh lên thiên giới. Thế nào là hai? Giới hiền thiện và Kiến hiền thiện. Đầy đủ hai pháp này, này các Tỷ-kheo, một người như vậy tương xứng được sanh lên thiên giới.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato puggalo yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge. Katamehi dvīhi? Bhaddakena ca sīlena, bhaddikāya ca diṭṭhiyā. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato puggalo yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, an individual with two qualities is placed in heaven as if delivered there. What two? Excellent conduct and excellent view. An individual with these two qualities is placed in heaven as if delivered there.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Người nào được thành tựu,
Đầy đủ hai pháp này,
Đầy đủ Giới hiền thiện,
Đầy đủ Kiến hiền thiện
Khi thân hoại mạng chung,
Người có chánh trí tuệ,
Người ấy sẽ được sanh
Vào cảnh giới cõi trời“Bhaddakena ca sīlena,
bhaddikāya ca diṭṭhiyā;
Etehi dvīhi dhammehi,
yo samannāgato naro;
Kāyassa bhedā sappañño,
saggaṁ so upapajjatī”ti.“If a person possesses these two qualities— excellent conduct and excellent views— when their body breaks up, that wise person is reborn in heaven.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Chaṭṭhaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu hai pháp: giới hiền thiện và kiến hiền thiện. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, giới hiền thiện nói về cách sống ngay thẳng thể hiện ra ngoài, còn kiến hiền thiện nói về cách thấy đúng đắn dẫn đường cho cách sống ấy, nên hai pháp này bao quát cả hành động và nhận thức.
Chữ tương xứng trong kinh đáng được chú ý. Tương xứng có nghĩa là quả đi theo nhân một cách phù hợp, chứ không phải là một phần thưởng được ban phát một cách tùy tiện.
Bài kệ nhắc lại hai pháp bằng từng câu ngắn và kết bằng quả sau khi thân hoại mạng chung. Việc bài kệ lặp lại đúng hai pháp của phần văn xuôi cho thấy kinh muốn người đọc giữ đúng hai pháp ấy trong tâm, không thêm và không bớt.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải vốn làm ăn ngay thẳng và tin rằng giữ chữ tín mới bền, nhiều năm sau chú vẫn được khách hàng cũ tìm đến. Sự bền bỉ ấy là hình ảnh đời thường của một đời sống có giới và kiến cùng hiền thiện.
Kinh này cũng nhắc người đọc đừng tách rời giới và kiến: giữ giới mà kiến chưa ngay thì dễ sinh kiêu mạn, còn có kiến đúng mà không giữ giới thì lời nói và việc làm không đi cùng nhau.
Người đầy đủ giới hiền thiện và kiến hiền thiện thì tương xứng được sanh lên thiên giới.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 33 (Dutiyasīla Sutta, Itivuttaka 33). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 33 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.