Kinh Anurādha
Anurādha Sutta
Còn gọi là: Kinh Anuradha
Các du sĩ hỏi: Như Lai chết rồi thì còn hay mất? Đức Phật cho thấy ngay trong hiện tại, Như Lai đã không được tìm thấy một cách chân thật, chắc chắn, huống gì sau khi chết.
Trước khi đọc kinh
Kinh Anurādha (Anurādha Sutta) là bài kinh thứ tư trong phẩm Trưởng Lão, Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Bộ. Đức Thế Tôn đang trú gần thành Tỳ-xá-ly (Vesālī), tại Đại Lâm (Mahāvana), trong ngôi nhà mái nhọn. Tôn giả Anurādha sống trong một túp lều giữa rừng, không xa chỗ Đức Thế Tôn; theo chú giải Tương Ưng Bộ (Sāratthappakāsinī), đó là một am lá ở rìa khu tu viện. Một nhóm du sĩ ngoại đạo đến hỏi: khi trình bày về vị Như Lai, bậc người tối thượng, đã đạt đến chỗ cao tột, có phải Đức Như Lai trình bày theo một trong bốn cách: Như Lai còn tồn tại sau khi chết, không còn tồn tại, vừa còn vừa không còn, hay không phải còn cũng không phải không còn (đoạn 1.5–1.6)? Tôn giả đáp: Đức Như Lai trình bày ngoài bốn cách ấy (đoạn 2.2–2.3). Các du sĩ chê Tôn giả là người mới xuất gia, hoặc là trưởng lão mà ngu, rồi bỏ đi (đoạn 2.5–2.6). Theo chú giải, Tôn giả trả lời như vậy vì nghĩ rằng những người chống đối giáo pháp đã nói thế thì Đức Phật hẳn sẽ nói khác.
Tôn giả băn khoăn không biết mình đã nói đúng lời Đức Thế Tôn chưa, nên đến thưa lại mọi việc (đoạn 3.3–6.3). Đức Phật không trả lời ngay câu hỏi về cái chết. Ngài hỏi về năm uẩn: sắc, cảm thọ (vedanā), tưởng, hành, thức là thường hay vô thường; cái gì vô thường, khổ, đổi thay thì có nên xem là “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi” không (đoạn 7.1–7.12). Theo chú giải, Đức Phật thấy vị Tỷ-kheo này chưa nhận ra chỗ sai trong cách hiểu của mình, nhưng là người siêng tu, nên giảng bài pháp ba vòng ấy; nhờ đó Tôn giả chứng quả A-la-hán, rồi Đức Phật mới hỏi tiếp. Con có xem sắc là Như Lai, xem Như Lai ở trong sắc, hay ở ngoài sắc không, và cũng vậy với cảm thọ, tưởng, hành, thức? Ngài còn nêu cả năm uẩn trong một câu hỏi: có xem sắc, cảm thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không? Có xem Như Lai là vị không có sắc, không có cảm thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức không? Câu trả lời đều là không (đoạn 8.1–11.3). Vậy thì, ngay trong hiện tại còn không tìm thấy Như Lai một cách chân thật, chắc chắn, có hợp lý không khi tuyên bố rằng Như Lai được trình bày ngoài bốn cách kia? Tôn giả thưa: không (đoạn 12.1–12.4). Đức Phật kết: trước đây cũng như bây giờ, Ta chỉ nói về khổ và sự chấm dứt khổ (đoạn 13.2). Theo chú giải, hai chữ ấy bao gồm cả bốn Thánh đế.
Bài kinh này hay bị hiểu lầm theo hai hướng: hoặc nghĩ Đức Phật lảng tránh, hoặc nghĩ Ngài ngầm nói Như Lai chết là mất hẳn. Cả hai đều chưa đúng. Câu hỏi của các du sĩ đặt sẵn một tiền đề: có một “ai đó” gọi là Như Lai, rồi hỏi người ấy sau khi chết đi đâu. Đức Phật tháo chính tiền đề ấy: ngay lúc đang hiện diện, Như Lai cũng không phải là sắc, cảm thọ, tưởng, hành, thức, không ở trong hay ở ngoài chúng. Khi không có gì để nắm bắt thì cả bốn cách nói, và cả câu “ngoài bốn cách”, đều không đứng được. Vì thế Ngài đưa người nghe trở về điều có thể thấy và làm được ngay: khổ, và sự chấm dứt khổ. Khi bạn gặp những tranh luận về đời sau, về linh hồn, bạn có thể tự hỏi: câu hỏi này có giúp mình bớt khổ ngay bây giờ không? Rồi trở về quán năm uẩn nơi chính mình, từ một cảm thọ đang có mặt, như Tôn giả Anurādha đã được dạy.
Ý chính
- Các du sĩ hỏi Như Lai sau khi chết còn, không còn, vừa còn vừa không, hay không phải còn cũng không phải không còn (1.6).
- Tôn giả Anurādha nói Như Lai được trình bày ngoài bốn cách ấy, và bị chê là người mới, người ngu (2.2–2.6).
- Sắc, cảm thọ, tưởng, hành, thức là vô thường; cái gì vô thường, khổ, đổi thay thì không nên xem là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi (7.2–7.12).
- Không xem sắc là Như Lai, không xem Như Lai ở trong hay ở ngoài sắc, và cũng vậy với bốn uẩn kia (8.1–9.14).
- Ngay trong hiện tại, Như Lai không được tìm thấy một cách chân thật, chắc chắn, nên không thể tuyên bố gì về Như Lai sau khi chết (12.1–12.4).
- Trước đây cũng như bây giờ, Ta chỉ nói về khổ và sự chấm dứt khổ (13.2).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- tathāgata
- Như Lai, bậc đã đến như thế, đã đi như thế
- paraṁ maraṇā
- sau khi chết
- aññatitthiya paribbājaka
- du sĩ ngoại đạo
- khandha
- uẩn: sắc, cảm thọ, tưởng, hành, thức
- samanupassati
- xem là, nhận là
- saccato thetato
- một cách chân thật, chắc chắn
- anupalabbhiyamāna
- không được tìm thấy, không nắm bắt được
- dukkhassa nirodha
- sự chấm dứt khổ; theo chú giải, khổ và diệt khổ ở đây bao gồm cả bốn Thánh đế
Kinh Anurādha
1Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesālī, Đại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
—Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy, được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena āyasmā anurādho bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharati. Atha kho sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāyasmā anurādho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anurādhena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ: “yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti?At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Now at that time Venerable Anurādha was staying not far from the Buddha in a wilderness hut. Then several wanderers of other religions went up to Venerable Anurādha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him: “Reverend Anurādha, when a Realized One is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them in these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.”
2Được nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ ấy:
—Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Được nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với Tôn giả Anuràdha như sau:
—Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học tập.
Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.Evaṁ vutte, āyasmā anurādho te aññatitthiye paribbājake etadavoca: “yo so āvuso tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti. Evaṁ vutte, aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ: “so cāyaṁ bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto”ti. Atha kho aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.When they said this, Venerable Anurādha said to those wanderers: “Reverends, when a Realized One is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.” When he said this, the wanderers said to him: “This mendicant must be junior, recently gone forth, or else a foolish, incompetent senior mendicant.” Then, after rebuking Venerable Anurādha by calling him “junior” and “foolish”, the wanderers rose from their seats and left.
3Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: “Nếu ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.Atha kho āyasmato anurādhassa acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi: “sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ. Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?Soon after they had left, Anurādha thought: “If those wanderers were to inquire further, how should I answer them so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should I explain in line with his teaching, so that there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
4–6Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến … nói với con như sau: “Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”.
Được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các ngoại đạo du sĩ ấy như sau: “Này chư Hiền.. không tồn tại sau khi chết”.
Được nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với con: “Hoặc là Tỷ-kheo này mới học … nhưng ngu dốt, không có học tập”.
Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con là mới tu học … liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: “Nếu các ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.Atha kho āyasmā anurādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā anurādho bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharāmi. Atha kho, bhante, sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu …pe… maṁ etadavocuṁ: ‘yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti— hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti … hoti ca na ca hoti, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti? Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te aññatitthiye paribbājake etadavocaṁ: “yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vāti. Evaṁ vutte, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā maṁ etadavocuṁ: ‘so cāyaṁ bhikkhu na vo bhavissati acirapabbajito thero vā pana bālo abyatto’ti. Atha kho maṁ, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu. Tassa mayhaṁ, bhante, acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi: ‘sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ. Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā’”ti?Then Venerable Anurādha went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him all that had happened.
7Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” …pe… tasmātiha …pe… evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.“What do you think, Anurādha? Is form permanent or impermanent?” “Impermanent, sir.” “But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?” “Suffering, sir.” “But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?” “No, sir.” “Is feeling …” … “… perception …” … “… choices …” … “Is consciousness permanent or impermanent?” “Impermanent, sir.” … “So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’
8Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“—Thọ … tưởng … các hành … thức là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”.What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to form?” “No, sir.” “Do you consider that the label ‘realized one’ applies to feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?” “No, sir.”
9Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Như Lai ở trong sắc không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài sắc không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như lai ở trong thọ … ở ngoài thọ … ở trong tưởng … ở ngoài tưởng … ở trong các hành … ở ngoài các hành … ở trong thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Vedanāya …pe… aññatra vedanāya …pe… saññāya … aññatra saññāya … saṅkhāresu … aññatra saṅkhārehi … viññāṇasmiṁ … aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”.“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies in relation to form?” “No, sir.” “Do you consider that the label ‘realized one’ applies apart from form?” “No, sir.” “Do you consider that the label ‘realized one’ applies in relation to feeling?” … “… apart from feeling?” … “… in relation to perception?” … “… apart from perception?” … “… in relation to choices?” … “… apart from choices?” … “… in relation to consciousness?” … “… apart from consciousness?” “No, sir.”
10—Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ … vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”.“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to one who has form?” … “… feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?” “No, sir.”
11—Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, ayaṁ so arūpī … avedano … asaññī … asaṅkhāro … aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”.“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to that one who is without form?” … “… feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?” “No, sir.”
12—Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý chăng khi Ông trả lời: “Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ ”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.“Ettha ca te, anurādha, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ: ‘yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti— hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā … na hoti … hoti ca na ca hoti … neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti? “No hetaṁ, bhante”.“In that case, Anurādha, since a realized one is not found by you as a genuine fact in this very life, is it cogent for you to declare: ‘Reverends, when a Realized One is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists’?” “No, sir.”
13—Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.“Sādhu sādhu, anurādha. Pubbe cāhaṁ, anurādha, etarahi ca dukkhañceva paññapemi, dukkhassa ca nirodhan”ti. Catutthaṁ.“Good, good, Anurādha! In the past, as today, what I describe is suffering and the cessation of suffering.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 22.86 (Anurādha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 22.86 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.