Tăng Chi Bộ 7.63 · AN 7.63

Kinh Bảy Loại Vợ

Bhariyā Sutta

Còn gọi là: Kinh Người Vợ

Một cô dâu nhà giàu làm cả nhà ồn ào, không nghe ai. Đức Phật không quở trách, chỉ kể bảy kiểu người vợ rồi để cô tự nhìn lại mình.

Trước khi đọc kinh

Kinh Bảy Loại Vợ (Bhariyā Sutta), còn gọi là Kinh Người Vợ, là bài kinh thứ mười, bài áp chót của phẩm Không Giải Đáp, phần Bảy Pháp của Tăng Chi Bộ. Một buổi sáng, Đức Thế Tôn đến nhà ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) và nghe trong nhà ồn ào như dân chài lúc kéo lưới (đoạn 2.1). Ông thưa đó là Sujātā, cô con dâu được cưới về từ một nhà giàu, không nghe lời cha mẹ chồng, không nghe lời chồng, cũng không kính trọng Đức Thế Tôn (đoạn 2.2–2.3). Theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), Sujātā là em gái của bà Tỳ-xá-khư (Visākhā), và lúc ấy cô đang đứng gần đó, lắng nghe xem ông sẽ khen hay chê mình trước Đức Phật.

Đức Phật gọi cô lại và kể bảy kiểu người vợ: như kẻ sát hại, như kẻ trộm, như bà chủ, như người mẹ, như người em gái, như người bạn, như nữ tỳ (đoạn 4.3). Ba kiểu đầu được tả bằng tâm oán ghét, sự lấy bớt của cải chồng làm ra, lười biếng và lời thô lỗ (đoạn 5.1–7.3). Bốn kiểu sau được tả bằng lòng thương và sự chăm lo: chăm chồng như mẹ chăm con, gìn giữ của cải chồng tích góp (đoạn 8.1–8.3), kính trọng như em với chị (đoạn 9.1–9.2), vui mừng khi gặp như bạn lâu ngày gặp lại (đoạn 10.1–10.2), nhẫn nại, không giận dữ (đoạn 11.1–11.3). Bài kệ kết: ba kiểu đầu, vì không giữ giới, thô lỗ, không biết kính trọng, khi thân hoại thì đi vào địa ngục; bốn kiểu sau, vì vững trong giới và biết tự chế lâu dài, khi thân hoại thì đi đến cõi lành (đoạn 12.1–13.4). Khi Đức Phật hỏi lại “con là loại nào”, Sujātā xin được làm người vợ như nữ tỳ đối với chồng (đoạn 14.3); theo chú giải, nói xong cô vững lòng quy y Tam Bảo.

Bài kinh được nói trong xã hội Ấn Độ hơn hai ngàn năm trước, khi cô dâu về sống trong nhà chồng và việc cưới hỏi gắn với của cải giữa hai gia đình, cho một cô dâu cụ thể, bằng những hình ảnh người thời ấy hiểu ngay. Vì vậy, khi đọc, ta nhìn vào cốt lõi: ba kiểu bị chê đều gắn với oán ghét, gian dối, thô lỗ; bốn kiểu được khen đều gắn với lòng thương, sự tôn trọng và giữ giới. Những phẩm chất ấy đâu chỉ dành cho người vợ. Ở Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31), Đức Phật dạy người chồng tôn trọng vợ, không coi thường vợ, chung thủy, để vợ làm chủ việc trong nhà và tặng vợ đồ trang sức; người vợ được đối xử như vậy thì đáp lại bằng sự khéo sắp đặt công việc, chung thủy, giữ gìn tài sản, siêng năng (đoạn 30.1–30.5). Hình ảnh người vợ không giận dữ dù bị dọa đánh (đoạn 11.1) mô tả đức nhẫn nại theo cách nhìn của xã hội thời ấy; đó không phải là lời khuyên ai phải cam chịu bạo lực. Nếu bạn hay người thân đang bị đe dọa, sự an toàn cần được đặt lên trước hết, và tìm đến người có thể giúp đỡ là điều nên làm. Hôm nay, cả vợ lẫn chồng đều có thể tự hỏi câu Đức Phật hỏi Sujātā theo cách của mình: mình đã đem đến cho người kia sự ấm áp của một người mẹ, một người em, một người bạn chưa, và bắt đầu lại từ một lời nói dịu dàng trong bữa cơm tối.

Ý chính

  • Có bảy loại vợ: như kẻ sát hại, như kẻ trộm, như bà chủ, như người mẹ, như người em gái, như người bạn, như nữ tỳ (4.3).
  • Người vợ đầy oán ghét, khinh chồng, lấy bớt của cải chồng làm ra, lười biếng, thô lỗ thuộc ba loại đầu (5.1–7.3).
  • Người vợ chăm lo cho chồng như mẹ chăm con, gìn giữ của cải chồng tích góp, là vợ như người mẹ (8.1–8.3).
  • Kính trọng nhau như em với chị, vui mừng gặp nhau như bạn lâu ngày gặp lại (9.1–10.2).
  • Không giữ giới, thô lỗ, không biết kính trọng thì thân hoại đi vào địa ngục; vững trong giới, biết tự chế thì đi đến cõi lành (12.3–13.4).
  • Nghe xong, Sujātā tự chọn: từ hôm nay xin làm người vợ nhẫn nại, không giận dữ, như nữ tỳ đối với chồng (11.3, 14.3).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
bhariyā
người vợ
vadhakasamā / corīsamā
vợ như kẻ sát hại / vợ như kẻ trộm
ayyasamā
vợ như bà chủ, người lấn át chồng
mātāsamā
vợ như người mẹ
bhaginīsamā
vợ như người em gái
sakhīsamā
vợ như người bạn
dāsīsamā
vợ như nữ tỳ, người nhẫn nại, thuận hòa
hitānukampinī
người có lòng thương, mong điều lợi ích cho người kia

Kinh Bảy Loại Vợ

1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến trú xứ của Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, trong trú xứ của gia chủ Anàthapindika có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng. Rồi Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Tena kho pana samayena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā honti. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Anāthapiṇḍika, where he sat down on the seat spread out. Now at that time people in Anāthapiṇḍika’s home were making a colossal racket. Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,

2—Này Gia chủ, vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng như những người đánh cá đang giành giựt cá?

—Bạch Thế Tôn, có nàng dâu Sujàtà giàu có đến đây từ một gia đình giàu có. Nàng không vâng lời mẹ chồng, không vâng lời cha chồng, không vâng lời chồng, cũng không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Thế Tôn.
“Kiṁ nu te, gahapati, nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti? “Ayaṁ, bhante, sujātā gharasuṇhā aḍḍhakulā ānītā. Sā neva sassuṁ ādiyati, na sasuraṁ ādiyati, na sāmikaṁ ādiyati, bhagavantampi na sakkaroti na garuṁ karoti na māneti na pūjetī”ti.“Householder, what’s with the people making that colossal racket in your home? You’d think it was fishermen hauling in a catch!” “Sir, that’s my daughter-in-law Sujātā. She’s been brought here from a wealthy family. She doesn’t obey her mother-in-law or father-in-law or her husband. And she does not honor, respect, esteem, and venerate the Buddha.”

3Rồi Thế Tôn cho gọi nàng dâu Sujàtà:

—Hãy đến đây Sujàtà!

—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Nàng dâu Sujàtà vâng đáp Thế Tôn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nàng dâu Sujàtà đang ngồi một bên:
Atha kho bhagavā sujātaṁ gharasuṇhaṁ āmantesi: “ehi, sujāte”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho sujātā gharasuṇhā bhagavato paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sujātaṁ gharasuṇhaṁ bhagavā etadavoca:Then the Buddha addressed Sujātā, saying, “Come, Sujātā.” “Yes, sir,” she replied. She went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to her:

4—Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này Sujàtà, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại vợ nào?

—Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn, con không hiểu rõ ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn.

—Vậy này Sujàtà, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

—Thưa vâng Sujàtà vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Satta kho imā, sujāte, purisassa bhariyāyo. Katamā satta? Vadhakasamā, corīsamā, ayyasamā, mātāsamā, bhaginīsamā, sakhīsamā, dāsīsamā. Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo. Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti? “Na kho ahaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi. Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti. “Tena hi, sujāte, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho sujātā gharasuṇhā bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:“Sujātā, a man can have seven kinds of wife. What seven? A wife like a killer, a wife like a thief, a wife like a lord, a wife like a mother, a wife like a sister, a wife like a comrade, and a wife like a bondservant. These are the kinds of wife that a man can have. Which one of these are you?” “Sir, I don’t understand the detailed meaning of what the Buddha has said in brief. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.” “Well then, Sujātā, listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” she replied. The Buddha said this:

5–13Ai tâm bị uế nhiễm,
Không từ mẫn thương người,
Thích thú những người khác,
Khinh rẻ người chồng mình,
Bị mua chuộc bằng tiền,
Hăng say giết hại người,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi vợ sát nhân.
Còn hạng nữ nhân nào,
Tiêu xài tài sản chồng,
Do công nghiệp đem lại,
Hay thương nghiệp, nông nghiệp,
Do vậy, nếu muốn trộm,
Dầu có ít đi nữa,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi vợ ăn trộm.
Không ưa thích làm việc,
Biếng nhác, nhưng ăn nhiều,
Ác khẩu và bạo ác,
Phát ngôn lời khó chịu,
Mọi cố gắng của chồng,
Đàn áp và chỉ huy,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi là vợ chủ nhân.
Ai luôn luôn từ mẫn,
Có lòng thương xót người,
Săn sóc giúp đỡ chồng,
Như mẹ chăm sóc con,
Tài sản chồng cất chứa,
Biết hộ trì gìn giữ,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi vợ như mẹ,
Ai như người em gái,
Đối xử với chị lớn,
Biết cung kính tôn trọng,
Đối với người chồng mình,
Với tâm biết tàm quí,
Tùy thuận phục vụ chồng,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi vợ như chị.
Ai ở đời thấy chồng,
Tâm hoan hỷ vui vẻ,
Như người bạn tốt lành,
Đã lâu từ xa về,
Sanh gia đình hiền đức,
Giữ giới, dạ trung thành,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi vợ như bạn.
Không tức giận, an tịnh,
Không sợ hình phạt, trượng,
Tâm tư không hiềm hận,
Nhẫn nhục đối với chồng,
Không phẫn nộ tức giận,
Tùy thuận lời chồng dạy,
Hạng người vợ như vậy,
Được gọi vợ nữ tỳ.
Ở đời các hạng vợ,
Được gọi vợ sát nhân,
Kể cả vợ ăn trộm,
Và cả vợ chủ nhân,
Vợ ấy không giữ giới,
Ác khẩu và vô lễ
Khi thân hoại mạng chung,
Bị sanh vào địa ngục.
Ở đời các hạng vợ,
Như mẹ, chị và bạn,
Và người vợ được gọi,
Là vợ như nữ tỳ,
An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Được sanh lên thiện thú.
“Paduṭṭhacittā ahitānukampinī, Aññesu rattā atimaññate patiṁ; Dhanena kītassa vadhāya ussukā, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Vadhā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Yaṁ itthiyā vindati sāmiko dhanaṁ, Sippaṁ vaṇijjañca kasiṁ adhiṭṭhahaṁ; Appampi tassa apahātumicchati, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Corī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Akammakāmā alasā mahagghasā, Pharusā ca caṇḍī duruttavādinī; Uṭṭhāyakānaṁ abhibhuyya vattati, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Ayyā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Yā sabbadā hoti hitānukampinī, Mātāva puttaṁ anurakkhate patiṁ; Tato dhanaṁ sambhatamassa rakkhati, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Mātā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Yathāpi jeṭṭhā bhaginī kaniṭṭhakā, Sagāravā hoti sakamhi sāmike; Hirīmanā bhattuvasānuvattinī, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Bhaginī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Yācīdha disvāna patiṁ pamodati, Sakhī sakhāraṁva cirassamāgataṁ; Koleyyakā sīlavatī patibbatā, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Sakhī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Akkuddhasantā vadhadaṇḍatajjitā, Aduṭṭhacittā patino titikkhati; Akkodhanā bhattuvasānuvattinī, Yā evarūpā purisassa bhariyā; ‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati. Yācīdha bhariyā vadhakāti vuccati, ‘Corī ca ayyā’ti ca yā pavuccati; Dussīlarūpā pharusā anādarā, Kāyassa bhedā nirayaṁ vajanti tā. Yācīdha mātā bhaginī sakhīti ca, ‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati; Sīle ṭhitattā cirarattasaṁvutā, Kāyassa bhedā sugatiṁ vajanti tāti.“With a mind full of hate and no kindness, lusting for others, looking down on her husband, she longs to murder him who paid the price for her. A man’s wife of this sort is called a wife and a killer. A woman’s husband earns his wealth by focusing on a profession, trade, or farming. And even if it’s only a little, she wants to take it. A man’s wife of this sort is called a wife and a thief. She’s an idle glutton who doesn’t want to work. Her words are harsh, fierce, and rude. He works hard, but she lives as his master. A man’s wife of this sort is called a wife and a lord. She’s always caring and kind, looking after her husband like a mother her child. She keeps the wealth that he has earned secure. A man’s wife of this sort is called a wife and a mother. She respects her husband as a younger sister respects her elder. Conscientious, she does what her husband says. A man’s wife of this sort is called a wife and a sister. She’s delighted to see him, like one reunited with a long-lost comrade. She’s of good pedigree, virtuous, and devoted. A man’s wife of this sort is called a wife and a comrade. She has no anger when threatened with violence by the rod. Without hate or anger, she endures her husband and does what he says. A man’s wife of this sort is called a wife and a bondservant. The kinds of wives here called killer, thief, and lord; immoral, harsh, and lacking regard for others, when their body breaks up they set course for hell. But the kinds of wives here called mother, sister, comrade, and bondservant; steadfast in their own morality, restrained for a long time, when their body breaks up they set course for a good place.

14Này Sujàtà, có bảy loại vợ này đối với người đàn ông. Con thuộc hạng người nào?

—Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ.
Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo. Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti? “Ajjatagge maṁ, bhante, bhagavā dāsīsamaṁ sāmikassa bhariyaṁ dhāretū”ti. Dasamaṁ.Sujātā, these are the seven kinds of wife that a man can have. Which one of these are you?” “Sir, from this day forth may the Buddha remember me as a wife like a bondservant.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 7.63 (Bhariyā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 7.63 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp