Kinh Bố Thí Đúng Thời
Kāladāna Sutta
Kinh Bố Thí Đúng Thời nêu năm bố thí đúng thời là cho người đến, cho người đi, cho người đau bệnh, cho trong lúc đói và dành hoa quả mới gặt đầu tiên cho bậc giữ giới.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Năm bố thí đúng thời gồm cho người đến, cho người đi và người đau bệnh.
- Bố thí trong thời đói và dành hoa quả đầu mùa cho bậc giữ giới cũng là bố thí đúng thời.
- Người có trí bố thí đúng thời với lời từ ái và tâm không tham được kết quả lớn.
Kinh Bố Thí Đúng Thời thuộc Tăng Chi Bộ và mang số hiệu 5.36. Bài kinh ngắn, gồm phần xuôi nêu năm bố thí đúng thời và phần kệ nói về kết quả của việc bố thí như vậy. Các đoạn kinh trải từ đoạn 1.1 đến đoạn 4.5. Chữ kāladānāni nghĩa là các bố thí đúng thời.
Năm trường hợp là: người đến, người đi, người đau bệnh, trong thời đói và lúc có hoa quả đầu mùa. Theo cách đọc của người viết, các trường hợp này đều gắn với thời điểm đang cần thiết. Phần kệ nhắc đến người có trí, lời từ ái, tâm không tham, và việc tùy hỷ cùng san sẻ công đức của những người vui theo và góp sức.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- kāladānāni
- các bố thí đúng thời
- āgantukassa
- người đến
- gamikassa
- người đi
- gilānassa
- người đau bệnh
- dubbhikkhe
- trong thời đói
- navasassāni
- vụ mùa mới
- navaphalāni
- quả mới
- sīlavantesu
- các bậc giữ giới
- sappaññā
- người có trí
- vītamaccharā
- không tham
Kinh Bố Thí Đúng Thời
1.1–1.2—Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí đúng thời này. Thế nào là năm?“Pañcimāni, bhikkhave, kāladānāni. Katamāni pañca?“Mendicants, there are these five timely gifts. What five?
1.3–1.8Bố thí cho người đến, bố thí cho người đi, bố thí cho người đau bệnh, bố thí trong thời đói, phàm có những hoa quả gì mới gặt hái được, dành chúng đầu tiên để cúng dường các bậc giữ giới. Này các Tỷ-kheo, năm pháp này là năm bố thí đúng thời.Āgantukassa dānaṁ deti; gamikassa dānaṁ deti; gilānassa dānaṁ deti; dubbhikkhe dānaṁ deti; yāni tāni navasassāni navaphalāni tāni paṭhamaṁ sīlavantesu patiṭṭhāpeti. Imāni kho, bhikkhave, pañca kāladānānīti.A gift to a visitor. A gift to someone setting out on a journey. A gift to someone who is sick. A gift at a time of famine. Presenting the freshly harvested grains and fruits first to those who are ethical. These are the five timely gifts.
2.1–4.5Có trí, thí đúng thời,
Lời từ ái, không tham,
Đúng thời, thí bậc thánh,
Bậc Chánh trực, Thế Tôn.
Cúng dường vậy to lớn,
Đưa đến lòng tịnh tín,
Ở đây người tùy hỷ,
Cùng người làm nghiệp vụ.
Không ai thiếu cúng dường,
Họ san sẻ công đức,
Do vậy hãy bố thí,
Với tâm không hạn chế.
Chỗ nào với bố thí,
Đưa đến kết quả lớn,
Đối với các hữu hình,
Công đức được an lập,
Cho đến trong đời sau.
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.
These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/
Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.Kāle dadanti sappaññā, vadaññū vītamaccharā; Kālena dinnaṁ ariyesu, ujubhūtesu tādisu. Vippasannamanā tassa, vipulā hoti dakkhiṇā; Ye tattha anumodanti, veyyāvaccaṁ karonti vā; Na tena dakkhiṇā ūnā, tepi puññassa bhāgino. Tasmā dade appaṭivānacitto, Yattha dinnaṁ mahapphalaṁ; Puññāni paralokasmiṁ, Patiṭṭhā honti pāṇinan”ti. Chaṭṭhaṁ.The wise give at the right time, being bountiful and rid of stinginess. A religious donation at the right time to the noble ones, upright and unaffected, given with a clear and confident mind, is indeed abundant. Those who rejoice at that, or do other services, don’t miss out on the offering; they too have a share in the merit. So you should give without holding back, where a gift is very fruitful. The good deeds of sentient beings support them in the next world.”
Giải nghĩa ngắn
Đúng thời trong bài kinh không phải là việc chọn một ngày được cho là tốt. Theo cách đọc của người viết, đúng thời ở đây là đúng lúc người nhận đang cần và vật cho đang có ý nghĩa thiết thực, như bữa ăn cho người đến hay sự giúp đỡ trong lúc thiếu ăn.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan trồng rau sau nhà và khi lứa rau đầu tiên thu hoạch được, chị dành một phần ngon nhất mang biếu người hàng xóm lớn tuổi đang ốm, thay vì đợi đến khi rau đã héo mới đem cho. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung việc cho đúng lúc và đúng người đang cần; ví dụ này của người viết, không phải lời kinh.
Tâm khi cho cũng được kinh nhắc đến cùng với thời điểm. Người có trí bố thí với lời từ ái và tâm không tham, và việc cho được nói là đưa đến lòng tịnh tín cùng kết quả lớn. Theo cách đọc của người viết, giá trị của việc cho vì vậy không nằm ở số lượng vật cho, mà nằm ở sự phù hợp của lúc cho và sự trong sạch của tâm khi cho.
Phần kệ còn nói đến người tùy hỷ và người làm nghiệp vụ cùng san sẻ công đức, và cúng dường không vì thế mà thiếu đi. Theo cách đọc của người viết, điều này mở rộng phước từ việc cho sang việc vui theo và góp sức, chứ không giới hạn phước ở người trực tiếp trao tặng.
Bố thí đúng thời là cho đúng lúc người nhận đang cần, với tâm không tham và lời từ ái.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 5.36 (Kāladāna Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 5.36 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.