Kinh Bố Thí
Dāna Sutta
Kinh Bố Thí dạy rằng nếu chúng sanh biết quả của san sẻ bố thí như Phật đã biết thì dù chỉ còn miếng ăn cuối cùng, họ cũng sẽ san sẻ khi có người nhận.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Nếu chúng sanh biết quả dị thục, tức quả chín muồi, của san sẻ bố thí như Phật đã biết thì họ sẽ không thọ hưởng mà không bố thí.
- Uế nhiễm xan tham, tức cấu uế của lòng bỏn sẻn, sẽ không ám ảnh tâm của họ.
- Dù chỉ còn miếng ăn cuối cùng, họ vẫn san sẻ khi có người nhận.
Kinh Bố Thí thuộc tập Itivuttaka, tức Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ Kinh. Kinh được nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia đang tu tập theo lời Phật, và đối chiếu hai trường hợp, trường hợp biết quả của san sẻ bố thí và trường hợp không biết. Phần xuôi nêu rõ sự khác biệt giữa hai trường hợp, phần kệ tán thán người bố thí đúng thời với tâm thanh tịnh, phần kết xác nhận ý nghĩa đã được nói đến.
Mạch kinh đi từ điều kiện biết đến hành động san sẻ. Theo cách đọc của người viết, điều kinh nhấn mạnh là tâm biết rõ quả của việc san sẻ, và tâm ấy làm cho uế nhiễm xan tham không còn chỗ ám ảnh.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- dānasaṁvibhāgassa
- của sự san sẻ bố thí
- vipākaṁ
- quả chín muồi
- maccheramalaṁ
- cấu uế của lòng bỏn sẻn
- cetasā
- với tâm
- saggaṁ
- cõi trời
- dāyakā
- những người bố thí
Kinh Bố Thí
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, nếu các chúng sanh có thể biết như Ta đã biết, quả dị thục của sự san sẻ bố thí họ sẽ không thụ hưởng nếu họ không bố thí và uế nhiễm xan tham không có ám ảnh tâm của họ và an trú. Dầu là miếng cuối cùng của họ, dầu là miếng ăn tối hậu, họ sẽ không thọ hưởng nếu họ không san sẻ, khi có người nhận của họ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các chúng sanh không biết như Ta đã biết quả dị thục của san sẻ bố thí họ sẽ thọ hưởng, không có bố thí, và uế nhiễm xan tham ám ảnh tâm của họ và an trú.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đấy, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Evañce, bhikkhave, sattā jāneyyuṁ dānasaṁvibhāgassa vipākaṁ yathāhaṁ jānāmi, na adatvā bhuñjeyyuṁ, na ca nesaṁ maccheramalaṁ cittaṁ pariyādāya tiṭṭheyya. Yopi nesaṁ assa carimo ālopo carimaṁ kabaḷaṁ, tatopi na asaṁvibhajitvā bhuñjeyyuṁ, sace nesaṁ paṭiggāhakā assu. Yasmā ca kho, bhikkhave, sattā na evaṁ jānanti dānasaṁvibhāgassa vipākaṁ yathāhaṁ jānāmi, tasmā adatvā bhuñjanti, maccheramalañca nesaṁ cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, if sentient beings only knew, as I do, the fruit of giving and sharing, they would not eat without first giving, and the stain of stinginess would not occupy their minds. They would not eat without sharing even their last mouthful, their last morsel, so long as there was someone to receive it. It is because sentient beings do not know, as I do, the fruit of giving and sharing, that they eat without first giving, and the stain of stinginess occupies their minds.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Nếu các hàng chúng sanh,
Có thể biết như vậy,
Như bậc Đại ẩn sĩ,
Đã nói, tuyên bố lên,
Qua dị thục lớn thay,
Của san sẻ bố thí!
Nhiếp phục uế xan tham,
Với tâm thật thanh tịnh
Đúng thời họ bố thí,
Đối với các thánh nhân,
Tại đây bố thí vậy,
Có quả thật to lớn
Cho nhiều các thức ăn,
Kính lễ người đáng kính,
Từ đãy xả, từ bỏ,
Địa vị làm con người,
Các người làm bố thí
Được đi đến cõi Trời,
Họ đi đến cõi trời,
Tại đấy chúng hoan hỷ,
Với mọi điều sở thích,
Họ thọ hưởng như ý,
Vị không có xan tham,
Được thọ hưởng đầy đủ,
Quả dị thục của chúng,
Nhờ san sẻ bố thí.“Evañce sattā jāneyyuṁ,
yathāvuttaṁ mahesinā;
Vipākaṁ saṁvibhāgassa,
yathā hoti mahapphalaṁ.
Vineyya maccheramalaṁ,
vippasannena cetasā;
Dajjuṁ kālena ariyesu,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Annañca datvā bahuno,
dakkhiṇeyyesu dakkhiṇaṁ;
Ito cutā manussattā,
saggaṁ gacchanti dāyakā.
Te ca saggagatā tattha,
modanti kāmakāmino;
Vipākaṁ saṁvibhāgassa,
anubhonti amaccharā”ti.“If sentient beings only knew how great is the fruit of giving and sharing as taught by the great seer! Rid of the stain of stinginess, with clear and confident heart, they would duly give to the noble ones, where a gift is very fruitful. Having given food in abundance to those worthy of a religious donation, after passing from the human realm, the givers go to heaven. And when they have arrived there in heaven, they enjoy all the pleasures they desire. The generous enjoy the fruit of giving and sharing.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Chaṭṭhaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh đặt điều kiện biết lên trước hành động san sẻ. Nếu chúng sanh biết quả dị thục của san sẻ bố thí như Phật đã biết thì họ sẽ không thọ hưởng mà không bố thí, và uế nhiễm xan tham không ám ảnh tâm của họ. Ngược lại, vì không biết như vậy nên họ thọ hưởng mà không bố thí và để uế nhiễm xan tham ám ảnh tâm.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm mấu chốt không nằm ở việc có nhiều hay ít để cho, mà nằm ở chỗ tâm có thấy rõ quả của việc san sẻ hay không, vì tâm thấy rõ sẽ tự buông bỏ sự giữ riêng.
Một người chỉ còn một phần cơm trưa nhưng vẫn chia nửa cho đồng nghiệp chưa kịp ăn sẽ thấy bữa ăn ấy nhẹ nhàng hơn là giữ riêng cả phần, dù giá trị vật chất của phần chia ra không lớn (không phải lời kinh).
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bố thí trong kinh này bắt đầu từ sự hiểu biết chứ không bắt đầu từ sự dư dả, và khi bạn xét việc san sẻ của bản thân, bạn có thể xét trước hết xem tâm bạn có còn bị lòng bỏn sẻn ám ảnh hay không.
Biết quả của san sẻ bố thí, người bố thí sẽ không để lòng bỏn sẻn ám ảnh tâm và sẽ san sẻ ngay cả khi chỉ còn miếng ăn cuối cùng.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 26 (Dāna Sutta, Itivuttaka 26). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 26 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.