Kinh Bốn Niềm Vui Của Người Tại Gia (Không Mắc Nợ)
Ānaṇya Sutta
Còn gọi là: Kinh Không Mắc Nợ
Đức Phật nói với ông Cấp Cô Độc về bốn niềm vui mà người có gia đình có thể đạt được, và chỉ ra niềm vui nào quý nhất.
Trước khi đọc kinh
Kinh Bốn Niềm Vui Của Người Tại Gia, còn gọi là Kinh Không Mắc Nợ (Ānaṇya Sutta), thuộc Tăng Chi Bộ, phần Bốn Pháp, phẩm Việc Làm Xứng Đáng. Gia chủ Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, và Ngài nói với ông về bốn niềm vui mà người tại gia, người còn hưởng các dục, có thể đạt được tùy theo lúc, tùy theo dịp: niềm vui có của cải, niềm vui dùng của cải, niềm vui không mắc nợ và niềm vui không lỗi lầm (đoạn 1.1–2.3). Bài kinh không chê bai tiền bạc, mà nói rõ của cải phải như thế nào mới đem lại niềm vui.
Niềm vui có của cải là khi người con nhà lành có tài sản do siêng năng cố gắng mà có, do sức đôi tay gom góp, do mồ hôi đổ ra, kiếm được một cách chân chánh, và nghĩ đến điều ấy thì lòng an vui (đoạn 3.2–3.3). Niềm vui dùng của cải là khi người ấy đem tài sản chân chánh ra chi dùng và làm phước (đoạn 4.2–4.3). Niềm vui không mắc nợ là khi không nợ ai điều gì, dù ít hay nhiều (đoạn 5.2–5.3). Niềm vui thứ tư thuộc về vị Thánh đệ tử: thân, lời nói và ý nghĩ đều không có gì đáng chê trách (đoạn 6.2–6.3). Bài kệ cuối kinh so sánh: người sáng suốt nhìn thấu thì biết rằng các niềm vui kia không bằng được một phần mười sáu của niềm vui không lỗi lầm (đoạn 8.1–8.4).
Với người đang lo cơm áo, bài kinh rất thực tế. Ai từng trả xong một khoản nợ mua nhà hay nợ học phí đều biết cảm giác nhẹ nhõm mà kinh gọi là niềm vui không mắc nợ. Đồng tiền làm ra bằng mồ hôi, không gian dối, dùng để nuôi gia đình và giúp người khác, là niềm vui chính đáng. Nhưng kinh xếp cao nhất một niềm vui không cần tiền: tối về, nhìn lại một ngày, thấy mình không làm điều gì hại người, không nói lời gì phải hối tiếc. Bạn có thể thử mỗi tối tự hỏi: hôm nay thân, miệng, ý của mình có điều gì đáng trách không, rồi ngủ với niềm vui nhẹ nhàng ấy.
Ý chính
- Bốn niềm vui của người tại gia: có của cải, dùng của cải, không mắc nợ, không lỗi lầm (2.3).
- Của cải do siêng năng, do sức đôi tay, do mồ hôi mà có, kiếm được chân chánh, đem lại an vui (3.2–3.3).
- Dùng của cải chân chánh để chi dùng và để làm phước (4.2).
- Không mắc nợ ai điều gì, dù ít hay nhiều, cũng là một niềm vui (5.2–5.3).
- Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp không lỗi lầm là niềm vui của Thánh đệ tử (6.2–6.3).
- Các niềm vui kia không bằng một phần mười sáu niềm vui không lỗi lầm (8.1–8.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- gihī
- người tại gia
- kāmabhogī
- người còn hưởng các dục
- atthisukha
- niềm vui có của cải
- bhogasukha
- niềm vui dùng của cải
- ānaṇyasukha
- niềm vui không mắc nợ
- anavajjasukha
- niềm vui không lỗi lầm
- dhammaladdha
- kiếm được một cách chân chánh
- kalaṁ soḷasiṁ
- một phần mười sáu
Kinh Bốn Niềm Vui Của Người Tại Gia (Không Mắc Nợ)
1Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
2—Có bốn loại an lạc này, ngày Gia chủ, người tại gia thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn? Lạc sở hữu, lạc thọ dụng, lạc không mắc nợ, lạc không phạm tội.
Và này Gia chủ, thế nào là lạc sở hữu?“Cattārimāni, gahapati, sukhāni adhigamanīyāni gihinā kāmabhoginā kālena kālaṁ samayena samayaṁ upādāya. Katamāni cattāri? Atthisukhaṁ, bhogasukhaṁ, ānaṇyasukhaṁ, anavajjasukhaṁ.“Householder, these four kinds of happiness can be earned by a layperson who enjoys sensual pleasures, depending on time and occasion. What four? The happiness of ownership, using wealth, debtlessness, and blamelessness.
3Ở đây, này Gia chủ, tài sản của người thiện nam tử, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp. Vị ấy suy nghĩ: “Ta có tài sản, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay… thâu hoạch đúng pháp.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc sở hữu.
Và này, thế nào là lạc tài sản?Katamañca, gahapati, atthisukhaṁ? Idha, gahapati, kulaputtassa bhogā honti uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā sedāvakkhittā dhammikā dhammaladdhā. So ‘bhogā me atthi uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā sedāvakkhittā dhammikā dhammaladdhā’ti adhigacchati sukhaṁ, adhigacchati somanassaṁ. Idaṁ vuccati, gahapati, atthisukhaṁ.And what is the happiness of ownership? It’s when a gentleman owns legitimate wealth that he has earned by his own efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of ownership’.
4Ở đây, này Gia chủ, thiện nam tử thọ hưởng những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được… thâu hoạch đúng pháp và làm các việc phước đức. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta thọ hưởng những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn… thâu hoạch đúng pháp và ta làm các phước đức.” Nghĩ vậy vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc tài sản.Katamañca, gahapati, bhogasukhaṁ? Idha, gahapati, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi paribhuñjati puññāni ca karoti. So ‘uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi paribhuñjāmi puññāni ca karomī’ti adhigacchati sukhaṁ, adhigacchati somanassaṁ. Idaṁ vuccati, gahapati, bhogasukhaṁ.And what is the happiness of using wealth? It’s when a gentleman uses his legitimate wealth, and makes merit with it. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of using wealth’.
5Và này Gia chủ, thế nào là lạc không mắc nợ? Ở đây, này Gia chủ, vị thiện gia nam tử không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc không mắc nợ.Katamañca, gahapati, ānaṇyasukhaṁ? Idha, gahapati, kulaputto na kassaci kiñci dhāreti appaṁ vā bahuṁ vā. So ‘na kassaci kiñci dhāremi appaṁ vā bahuṁ vā’ti adhigacchati sukhaṁ, adhigacchati somanassaṁ. Idaṁ vuccati, gahapati, ānaṇyasukhaṁ.And what is the happiness of debtlessness? It’s when a gentleman owes no debt, large or small, to anyone. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of debtlessness’.
6Và này Gia chủ, thế nào là lạc không phạm tội?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu thân hành không phạm tội, thành tựu khẩu hành không phạm tội, thành tựu ý hành không phạm tội. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta thành tựu thân hành không phạm tội, khẩu hành không phạm tội, ý hành không phạm tội”. Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này Gia chủ, đây gọi là lạc không phạm tội.
Có bốn loại lạc này, này Gia chủ, người tại gia thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ, khởi lên cho vị ấy.Katamañca, gahapati, anavajjasukhaṁ? Idha, gahapati, ariyasāvako anavajjena kāyakammena samannāgato hoti, anavajjena vacīkammena samannāgato hoti, anavajjena manokammena samannāgato hoti. So ‘anavajjenamhi kāyakammena samannāgato, anavajjena vacīkammena samannāgato, anavajjena manokammena samannāgato’ti adhigacchati sukhaṁ, adhigacchati somanassaṁ. Idaṁ vuccati, gahapati, anavajjasukhaṁ. Imāni kho, gahapati, cattāri sukhāni adhigamanīyāni gihinā kāmabhoginā kālena kālaṁ samayena samayaṁ upādāyāti.And what is the happiness of blamelessness? It’s when a noble disciple has blameless conduct by way of body, speech, and mind. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of blamelessness’. These four kinds of happiness can be earned by a layperson who enjoys sensual pleasures, depending on time and occasion.
7–8Được lạc không mắc nợ,
Nhớ đến lạc sở hữu,
Người hưởng lạc tài sản,
Với tuệ, thấy như thị,
Do thấy, vị ấy biết,
Sáng suốt cả hai phần,
Lạc vậy chỉ bằng được,
Bằng một phần mười sáu,
Lạc không có phạm tội.Ānaṇyasukhaṁ ñatvāna, Atho atthisukhaṁ paraṁ; Bhuñjaṁ bhogasukhaṁ macco, Tato paññā vipassati. Vipassamāno jānāti, ubho bhoge sumedhaso; Anavajjasukhassetaṁ, kalaṁ nāgghati soḷasin”ti. Dutiyaṁ.Knowing the happiness of debtlessness, and the extra happiness of possession, a mortal enjoying the happiness of using wealth, then discerns clearly with wisdom. Discerning clearly, a clever person knows both kinds of happiness: the other kind is not worth a sixteenth part of the happiness of blamelessness.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 4.62 (Ānaṇya Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.62 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.