Tăng Chi Bộ 4.32 · AN 4.32

Kinh Bốn Nhiếp Pháp

Saṅgaha Sutta

Điều gì giữ cho một gia đình, một tập thể không rời rạc? Đức Phật chỉ ra bốn việc giản dị, ví như cái chốt nhỏ giữ bánh xe khi xe đang chạy.

Trước khi đọc kinh

Kinh Bốn Nhiếp Pháp (Saṅgaha Sutta) là bài kinh thứ hai trong phẩm Bánh Xe, phần Bốn Pháp của Tăng Chi Bộ. Nhiếp pháp (saṅgahavatthu) là những cách thu phục, gắn kết lòng người; theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), đó là “những lý do để gắn bó với nhau”. Đức Phật kể ra bốn điều: bố thí, lời ái ngữ, việc làm lợi ích, và sống hòa đồng như nhau (đoạn 1.3). Người Việt quen gọi gọn là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

Chú giải cho thấy bốn điều này đáp ứng những người khác nhau. Có người cần được giúp đỡ vật chất, thì nên cho. Có người không mong quà, chỉ mong một lời nói dễ nghe; chú giải kể người ta có thể nói: “Ông kia cho thì có cho, nhưng mỗi câu nói lại làm hỏng hết, cho làm gì”, hoặc “Người này chẳng cho gì, nhưng nói năng như xoa dầu, một lời của người ấy đáng giá ngàn đồng”. Có người không mong quà, cũng không mong lời ngọt, chỉ mong được chỉ bảo điều có lợi: việc này nên làm, việc kia không nên, nên gần người thế này, tránh người thế kia. Và có người chỉ mong được đối xử ngang hàng, cùng ngồi, cùng ăn, chia nhau vui buồn. Bài kệ nói bốn điều ấy phải làm tùy nơi, tùy người cho xứng hợp (đoạn 2.4), và ví chúng như chốt trục giữ cỗ xe đang lăn (đoạn 2.5–2.6). Nếu thiếu những nhiếp pháp ấy, thì người mẹ, người cha cũng không được con kính trọng, tôn quý (đoạn 3.1–3.4); người trí khéo xét những điều ấy nên đạt được sự cao cả và được ngợi khen (đoạn 4.2–4.4). Bài kệ này cũng có ở cuối Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31), lời dạy của Đức Phật cho người tại gia về các mối quan hệ.

Bốn nhiếp pháp nghe như chuyện lớn, nhưng thật ra là những việc nhỏ trong nhà. Một mâm cơm để phần cho người về muộn là bố thí. Một câu “hôm nay con vất vả rồi” thay cho một tràng trách móc là ái ngữ. Ngồi chỉ cho đứa cháu cách viết lá đơn xin việc là lợi hành. Cùng ăn một mâm, không phân ai trên ai dưới, buồn vui có nhau, là đồng sự. Điều đáng nhớ là bài kệ nói cả cha mẹ cũng cần những điều này: tình thân không tự nhiên bền nếu không được vun bằng những việc cụ thể. Tuần này, bạn có thể chọn một người trong nhà và tự hỏi người ấy đang cần nhất điều gì trong bốn điều kia, rồi làm điều ấy một lần.

Ý chính

  • Có bốn nhiếp pháp: bố thí, lời ái ngữ, việc làm lợi ích, sống hòa đồng như nhau (1.3).
  • Bốn điều ấy được làm tùy nơi, tùy người cho xứng hợp (2.3–2.4).
  • Nhiếp pháp giữ thế gian như chốt trục giữ cỗ xe đang lăn (2.5–2.6).
  • Nếu thiếu nhiếp pháp, cha mẹ cũng không được con kính trọng, tôn quý (3.1–3.4).
  • Người trí khéo xét kỹ các nhiếp pháp ấy (4.1–4.2).
  • Nhờ vậy, họ đạt được sự cao cả và được ngợi khen (4.3–4.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
saṅgahavatthu
nhiếp pháp; theo chú giải là những lý do để gắn bó với nhau
dāna
bố thí, sự cho đi
peyyavajja
ái ngữ, lời nói dễ mến
atthacariyā
lợi hành, việc làm lợi ích; theo chú giải là lời chỉ bảo điều có lợi
samānattatā
đồng sự, sống hòa đồng như nhau; theo chú giải là cùng chia vui buồn
yathārahaṁ
tùy nơi, tùy người cho xứng hợp
āṇi
chốt trục, cái chốt giữ bánh xe
paṇḍita
người trí

Kinh Bốn Nhiếp Pháp

1—Này các Tỷ-kheo, có bốn nhiếp pháp này. Thế nào là bốn?

Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành và đồng sự
Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Đây là bốn nhiếp pháp.
“Cattārimāni, bhikkhave, saṅgahavatthūni. Katamāni cattāri? Dānaṁ, peyyavajjaṁ, atthacariyā, samānattatā— Imāni kho, bhikkhave, cattāri saṅgahavatthūnīti.“Mendicants, there are these four ways of being inclusive. What four? Giving, kindly words, taking care, and equality. These are the four ways of being inclusive.

2–4Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành và đồng sự,
Đối với những pháp này,
Ở đời đối xử nhau,
Chỗ này và chỗ kia,
Như vậy thật tương xứng,
Và bốn nhiếp pháp này,
Như đỉnh đầu trục xe,
Nếu thiếu nhiếp pháp này,
Thời cả mẹ lẫn cha
Không được các người con
Tôn trọng và cung kính,
Do vậy bậc Hiền trí,
Đồng đẳng nhìn nhiếp pháp
Nhờ vậy họ đạt được,
Sự cao lớn, tán thán.
Dānañca peyyavajjañca, atthacariyā ca yā idha; Samānattatā ca dhammesu, tattha tattha yathārahaṁ; Ete kho saṅgahā loke, rathassāṇīva yāyato. Ete ca saṅgahā nāssu, na mātā puttakāraṇā; Labhetha mānaṁ pūjaṁ vā, pitā vā puttakāraṇā. Yasmā ca saṅgahā ete, samavekkhanti paṇḍitā; Tasmā mahattaṁ papponti, pāsaṁsā ca bhavanti te”ti. Dutiyaṁ.Giving and kindly words, taking care here, and treating equally in worldly conditions, as they deserve in each case. These ways of being inclusive in the world are like a moving chariot’s linchpin. If there were no such ways of being inclusive, neither mother nor father would be respected and honored for what they’ve done for their children. But since these ways of being inclusive do exist, the astute do regard them well, so they achieve greatness and are praised.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.32 (Saṅgaha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.32 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp