Kinh Chiến Thắng
Vijaya Sutta
Còn gọi là: Kinh Vijaya, Kinh Tập 1.11
Bài kinh nhìn thân thể không qua lớp da đẹp đẽ: từ cử động hằng ngày, những gì chứa bên trong, đến lúc thân nằm nơi bãi tha ma. Chiến thắng ở đây là thắng lòng tham đắm và kiêu mạn vì thân.
Trước khi đọc kinh
Kinh Chiến Thắng (Vijaya Sutta) là bài kinh thứ mười một trong phẩm Rắn (Uragavagga) của Kinh Tập, gồm mười bốn bài kệ không có người hỏi. Bài mở đầu bằng những việc rất thường: dù đi, đứng, ngồi, nằm, co hay duỗi tay chân, đó chỉ là sự cử động của thân (kệ 1.1–1.4). Thân được xương và gân nối lại, được da thịt trát lên, có lớp da mỏng che bên ngoài, nên không được thấy đúng như thật (kệ 2.1–2.4). Rồi kinh kể những gì bên trong: ruột, bao tử, gan, tim, phổi, máu, mật (kệ 3–4); những gì chảy ra từ chín lỗ (kệ 5–6); cái đầu rỗng chứa đầy óc, mà kẻ ngu vẫn cho là đẹp vì bị vô minh dẫn dắt (kệ 7.1–7.4); và khi chết, thân trương phình, xanh tím, bị bỏ nơi bãi tha ma cho chó, quạ, kên kên ăn (kệ 8–9). Tên “Chiến Thắng” có trong bài kệ tóm lược cuối phẩm (đoạn 17.2 của Kinh Bậc Ẩn Sĩ). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), kinh còn được gọi là Kinh Nandā hay Kinh Làm Lìa Ham Muốn Thân. Chú giải giải bài kệ đầu rất tinh tế: không có ai đang đi; khi tâm khởi ý “ta đi”, yếu tố gió do tâm ấy sinh lan khắp thân, thân dời đi, và ta gọi đó là “đi”. Bài kệ đầu vì vậy đã chỉ ra ba đặc tướng vốn bị che khuất: khổ bị các tư thế che, vô thường bị sự liên tục che, vô ngã bị ý niệm về một khối liền che.
Chú giải kể kinh được nói ở hai nơi. Lần thứ nhất cho Tỷ-kheo-ni Nan-đà (Nandā), người được gọi là “hoa khôi của xứ sở”, xuất gia vì người thân đều đã xuất gia chứ không vì lòng tin, tự hào sắc đẹp nên tránh gặp Đức Phật vì nghe Ngài chỉ ra sự nguy hại của sắc thân. Khi cô đến, Đức Phật hóa hiện một thiếu nữ rất đẹp đứng quạt bên Ngài, rồi cho cô thấy người ấy già dần, chết, trương phình và bị quạ ăn. Cô thấy vô thường, chứng quả Nhập lưu, nghe kinh này rồi ít ngày sau chứng quả A-la-hán. Lần thứ hai ở Vương Xá (Rājagaha), sau cái chết của nàng Sirimā, em gái của lương y Kỳ-bà (Jīvaka), người mà một vị Tỷ-kheo đã đem lòng say đắm. Đức Phật cùng chư Tăng đến xem thi hài nàng; người trong thành nói lúc nàng còn sống, người ta trả hơn một ngàn đồng tiền cũng khó được gặp, nay chỉ một đồng xu nhỏ cũng chẳng ai muốn trả để nhìn. Phần sau của kinh nói về người có trí: nghe lời Phật dạy, thấy thân đúng như thật, “thân này thế nào, thân kia cũng thế ấy” (kệ 11.1–11.2), lìa ham muốn với thân bên trong và bên ngoài, đạt đến Niết-bàn, cảnh giới không đổi dời (kệ 12.1–12.4). Chú giải giải: so thân người chết với thân mình thì bỏ được sân với bên ngoài; so thân mình với thân người chết thì bỏ được tham với bên trong.
Hiểu đúng: bài kinh không dạy ghét bỏ thân thể hay khinh thường người khác. Bài kệ cuối nói ngược lại: ai dựa vào một cái thân như vậy mà tự cao hay khinh rẻ người khác, đó chỉ vì chưa thấy (kệ 14.1–14.4). Phép quán này cùng một dòng với Ba Mươi Hai Thể Trược (Khp 3) và phần quán thân trong Kinh Niệm Xứ (MN 10). Thời nay, sắc đẹp được đo bằng ảnh chụp và lượt thích; bài kinh giúp ta thả lỏng nỗi lo ấy. Bạn có thể thử khi đi bộ hay rửa mặt: nhớ bài kệ đầu, thấy rõ đây chỉ là thân đang cử động, và để lòng nhẹ đi một chút trước tấm gương.
Ý chính
- Đi, đứng, ngồi, nằm, co duỗi tay chân: đó chỉ là sự cử động của thân (1.1–1.4).
- Có lớp da mỏng che phủ nên thân không được thấy đúng như thật (2.1–2.4).
- Từ chín lỗ của thân, đồ bất tịnh luôn luôn chảy ra (5.1–6.4).
- Kẻ ngu cho thân là đẹp vì bị vô minh dẫn dắt (7.3–7.4).
- Thân này thế nào, thân kia cũng thế ấy: lìa ham muốn với thân bên trong và bên ngoài (11.1–11.4).
- Dựa vào thân như vậy mà tự cao hay khinh người, đó chỉ vì chưa thấy (14.1–14.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- vijaya
- chiến thắng
- kāya
- thân
- iñjanā
- sự cử động, sự lay động
- asuci
- bất tịnh, đồ dơ
- avijjā
- vô minh, sự không thấy rõ sự thật
- yathābhūta
- đúng như thật
- chandarāga
- lòng ham muốn và tham đắm
- amata
- bất tử, một tên gọi của Niết-bàn
Kinh Chiến Thắng
1Hoặc là đi hay đứng,
Hoặc là ngồi hay nằm,
Hoặc co tay, duỗi tay,
Như vậy, thân dao động.Caraṁ vā yadi vā tiṭṭhaṁ, nisinno uda vā sayaṁ; Samiñjeti pasāreti, esā kāyassa iñjanā.Walking and standing, sitting and lying down, extending and contracting the limbs: these are the movements of the body.
2Ràng buộc với xương gân,
Trét thoa với da thịt,
Thân được da che đậy,
Như thật không thấy rõ.Aṭṭhinahārusaṁyutto, tacamaṁsāvalepano; Chaviyā kāyo paṭicchanno, yathābhūtaṁ na dissati.Linked together by bones and sinews, plastered over with flesh and hide, and covered by the skin, the body is not seen as it is.
3Trong một bụng chứa đầy,
Cục gan, và bọng đái,
Quả tim và buồng phổi,
Cả thận, và tỳ tạng.Antapūro udarapūro, yakanapeḷassa vatthino; Hadayassa papphāsassa, vakkassa pihakassa ca.It’s full of guts and belly, liver and bladder, heart and lungs, kidney and spleen,
4Nước mũi, và nước miếng,
Mồ hôi, và nước mỡ,
Máu, và nước khớp xương,
Mật, và bạch huyết cầu.Siṅghāṇikāya kheḷassa, sedassa ca medassa ca; Lohitassa lasikāya, pittassa ca vasāya ca.spit and snot, sweat and fat, blood and synovial fluid, bile and grease.
5Từ chín nguồn nước này,
Bất tịnh luôn luôn chảy,
Từ mắt, đồ bẩn chảy,
Từ tai, đồ bẩn chảy.Athassa navahi sotehi, asucī savati sabbadā; Akkhimhā akkhigūthako, kaṇṇamhā kaṇṇagūthako.Then in nine streams the filth is always flowing. There is muck from the eyes, wax from the ears,
6Nước mũi từ lỗ mũi,
Từ miệng, có khi chảy,
Chảy mật, và niêm dịch,
Từ thân, mồ hôi bẩn.Siṅghāṇikā ca nāsato, mukhena vamatekadā; Pittaṁ semhañca vamati, kāyamhā sedajallikā.and snot from the nostrils. The mouth sometimes vomits bile and sometimes phlegm. And from the body, sweat and waste.
7Trong đầu thật trống rỗng,
Chứa đầy những óc, não.
Bị vô minh dắt dẫn,
Kẻ ngu nghĩ tịnh sạch.Athassa susiraṁ sīsaṁ, matthaluṅgassa pūritaṁ; Subhato naṁ maññati bālo, avijjāya purakkhato.Then there is the hollow head all filled with brains. Governed by ignorance, the fool thinks it’s lovely.
8Khi bị chết nằm xuống,
Phồng lên, và xanh bầm,
Quăng bỏ trong nghĩa địa,
Bà con không đoái hoài.Yadā ca so mato seti, Uddhumāto vinīlako; Apaviddho susānasmiṁ, Anapekkhā honti ñātayo.And when it lies dead, bloated and livid, dumped in a charnel ground, the relatives forget it.
9Chó, dã can đến ăn,
Chó sói, các côn trùng,
Quạ, diều hâu đến ăn,
Còn có hữu tình khác.Khādanti naṁ suvānā ca, siṅgālā ca vakā kimī; Kākā gijjhā ca khādanti, ye caññe santi pāṇino.It’s devoured by dogs, by jackals, wolves, and worms. It’s devoured by crows and vultures, and any other creatures there.
10Được nghe lời Phật dạy,
Tỷ-kheo có trí tuệ,
Vị ấy liễu tri thân,
Thấy thân đúng như thật.Sutvāna buddhavacanaṁ, Bhikkhu paññāṇavā idha; So kho naṁ parijānāti, Yathābhūtañhi passati.A wise mendicant here, having heard the Buddha’s words, fully understands it, for they see it as it is.
11Đây thế nào, kia vậy,
Kia thế nào, đây vậy,
Đối với thân trong ngoài,
Từ bỏ mọi lòng dục.Yathā idaṁ tathā etaṁ, Yathā etaṁ tathā idaṁ; Ajjhattañca bahiddhā ca, Kāye chandaṁ virājaye.“As this is, so is that, as that is, so is this.” They’d blanch desire for the body inside and out.
12–13Từ bỏ lòng tham dục,
Đây Tỷ-kheo có tuệ,
Chứng bất tử, tịch tịnh,
Niết-bàn giới thường trú.
Thân này với hai chân,
Bất tịnh và hôi thúi,
Đầy xác chết, chảy nước,
Lại được giữ, nâng niu.Chandarāgaviratto so, Bhikkhu paññāṇavā idha; Ajjhagā amataṁ santiṁ, Nibbānaṁ padamaccutaṁ. Dvipādakoyaṁ asuci, Duggandho parihīrati; Nānākuṇapaparipūro, Vissavanto tato tato.That wise mendicant here rid of desire and lust, has found the peace free of death, extinguishment, the state that does not pass. This two-legged body is dirty and stinking, full of different carcasses, and oozing all over the place— but still it is cherished!
14Với thân thể như vậy,
Ai lại nghĩ đề cao,
Hay khinh miệt kẻ khác,
Trừ kẻ không thấy gì.Etādisena kāyena, Yo maññe uṇṇametave; Paraṁ vā avajāneyya, Kimaññatra adassanāti. Vijayasuttaṁ ekādasamaṁ.And if, on account of such a body, someone prides themselves or looks down on others— what is that but a failure to see?
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 1.11 (Vijaya Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.11 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.