Kinh Con Mắt
Cakkhu Sutta
Kinh Con Mắt nêu ba con mắt là mắt thịt, mắt chư Thiên và mắt trí tuệ, rồi nói ai chứng được tuệ nhãn tối thượng thì giải thoát mọi đau khổ.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Kinh Con Mắt nêu ba con mắt là mắt thịt, mắt chư Thiên và mắt trí tuệ.
- Bài kệ nói ba con mắt ấy được bậc Vô thượng nhân tuyên bố và trình bày.
- Ai chứng được tuệ nhãn tối thượng thì giải thoát mọi đau khổ.
Kinh Con Mắt nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 61 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba con mắt. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.6, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.
Chữ paññācakkhu, mắt trí tuệ, là con mắt mà bài kệ gọi là vô thượng và tối thượng, đặt cạnh mắt thịt và mắt chư Thiên. Kinh không kể một câu chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi thẳng vào ba con mắt rồi trình bày thứ bậc của chúng trong bài kệ. Cấu trúc ngắn gọn này giúp bạn nắm được ý chính ngay từ lần đọc đầu.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- maṁsacakkhu
- mắt thịt
- dibbacakkhu
- mắt chư Thiên
- paññācakkhu
- mắt trí tuệ
- anuttaraṁ
- vô thượng
- purisuttamo
- bậc Vô thượng nhân
- ñāṇaṁ
- trí
- sabbadukkhā
- mọi đau khổ
Kinh Con Mắt
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba con mắt này. Thế nào là ba? Mắt thịt, mắt chư Thiên và mắt trí tuệ. Này các Tỷ-kheo có ba loại mắt này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tīṇimāni, bhikkhave, cakkhūni. Katamāni tīṇi? Maṁsacakkhu, dibbacakkhu, paññācakkhu— imāni kho, bhikkhave, tīṇi cakkhūnī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three eyes. What three? The eye of the flesh, the eye of clairvoyance, and the eye of wisdom. These are the three eyes.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Mắt thịt, mắt chư Thiên,
Vô thượng mắt trí tuệ,
Có ba loại mắt ấy,
Được bậc Vô thượng nhân,
Đã tuyên bố trình bày,
Sanh khởi của mắt thịt,
Con đường mắt chư Thiên,
Từ đấy, trí khởi lên,
Tuệ nhãn là tối thượng,
Ai chứng được mắt ấy,
Giải thoát mọi đau khổ.“Maṁsacakkhu dibbacakkhu,
paññācakkhu anuttaraṁ;
Etāni tīṇi cakkhūni,
akkhāsi purisuttamo.
Maṁsacakkhussa uppādo,
maggo dibbassa cakkhuno;
Yato ñāṇaṁ udapādi,
paññācakkhu anuttaraṁ;
Yassa cakkhussa paṭilābhā,
sabbadukkhā pamuccatī”ti.“The eye of flesh, the clairvoyant eye, the supreme eye of wisdom: these three eyes were taught by the supreme person. The arising of the eye of flesh is the path to the clairvoyant eye. When knowledge arises— the supreme eye of wisdom— one who gains that eye is released from all suffering.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu ba con mắt cạnh nhau nhưng bài kệ đặt mắt trí tuệ ở vị trí cao nhất, gọi là vô thượng và tối thượng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thứ bậc này cho thấy mắt thịt và mắt chư Thiên vẫn được nêu tên, nhưng chỉ có tuệ nhãn mới được gắn với việc giải thoát mọi đau khổ.
Bài kệ nhắc sanh khởi của mắt thịt và con đường của mắt chư Thiên, rồi nói từ đấy trí khởi lên và tuệ nhãn là tối thượng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, trình tự này đặt tuệ nhãn ở cuối như một kết quả, không phải như một khả năng có sẵn từ đầu mà không cần con đường đi tới.
Ví dụ của người viết (không phải lời kinh): một người thợ sửa xe nhìn thấy vết nứt nhỏ trên lốp xe mà khách chưa để ý, hiểu rằng vết nứt ấy có thể gây nguy hiểm khi chạy xa, và khuyên khách thay lốp trước chuyến đi, thì cái thấy ấy giúp tránh một rắc rối về sau.
Kinh không dạy một phương pháp nhìn xuyên thấu bằng mắt thường và bài này cũng không thêm điều ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tuệ nhãn trong bài kệ là cách nói về trí tuệ thấy rõ, còn việc chứng được tuệ nhãn là điểm mà bài kệ gắn với giải thoát mọi đau khổ.
Trong ba con mắt mà kinh nêu, tuệ nhãn là tối thượng và là con mắt gắn với giải thoát mọi đau khổ.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 61 (Cakkhu Sutta, Itivuttaka 61). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 61 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.