Phật Thuyết Như Vậy 38 · Iti 38

Kinh Tầm

Vitakka Sutta

Kinh này nói rằng Như Lai thường hành trì hai tầm là an ổn và ẩn dật, và khuyên các Tỷ-kheo cũng an trú trong hai tầm ấy.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Như Lai thường hành trì tầm an ổn và tầm ẩn dật.
  • Tầm an ổn là không làm hại một ai, dầu là loài động vật hay không động vật.
  • Tầm ẩn dật đi cùng đoạn tận bất thiện, và các Tỷ-kheo được khuyên an trú trong cả hai tầm.

Kinh Tầm nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mở đầu bằng lời dạy về hai tầm mà Như Lai thường hành trì, rồi khuyên các Tỷ-kheo cũng an trú trong hai tầm ấy, và kết lại bằng một bài kệ dài.

Chữ vitakka, tầm, chỉ dòng suy nghĩ thường khởi lên trong tâm. Hai tầm mà kinh nêu là khema, an ổn, và paviveka, ẩn dật. Phần kệ ví bậc Thiện tuệ như người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống quần chúng dưới chân, và như người leo lên lầu Chánh pháp mà nhìn xuống những ai đang bị sầu khổ và sanh già áp bức.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
vitakkā
các tầm
khemo
an ổn
paviveko
ẩn dật
abyāpajjhārāmo
ưa thích không làm hại
pavivekārāmo
ưa thích ẩn dật
akusalaṁ
điều bất thiện

Kinh Tầm

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo. Với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hai tầm tứ được hành trì nhiều đó là an ổn và ẩn dật. Này các Tỷ-kheo, Như Lai ưa thích không làm hại, thích thú không làm hại. Với Như Lai ấy, này các Tỷ-kheo, ưa thích không làm hại này, thích thú không làm hại này, tầm tứ này được hành trì nhiều. “Với cử chỉ uy nghi này Ta không làm hại một ai, dầu là loài động vật hay không động vật”. Này các Tỷ-kheo, Như Lai ưa thích ẩn dật, thích thú ẩn dật. Với Như Lai ấy, này các Tỷ-kheo, ưa thích ẩn dật này, thích thú ẩn dật. Với Như Lai ấy, này các Tỷ-kheo, ưa thích ẩn dật này, thích thú ẩn dật này, tầm tứ này được hành trì nhiều! Phàm có bất thiện gì, thì đều được đoạn tận. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy an trú, hân hoan trong không làm hại, thích thú trong không làm hại. Này các Tỷ-kheo, với các Thầy an trú, hân hoan trong không làm hại, thích thú trong không làm hại, tầm tứ này sẽ được hành trì nhiều. “Với cử chỉ uy nghi naỳ, chúng ta không làm hại một ai, dầu là loài động vật hay không động vật”. Này các Tỷ-kheo, hãy an trú hân hoan trong ẩn dật, thích thú trong ẩn dật. Này các Tỷ-kheo, với các Thầy an trú hân hoan trong ẩn dật, thích thú trong ẩn dật, tầm tứ này sẽ được hành trì nhiều. Còn có gì bất thiện, còn có gì chưa đoạn tận, còn có gì chúng ta phải từ bỏ nữa đâu?

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tathāgataṁ, bhikkhave, arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dve vitakkā bahulaṁ samudācaranti— khemo ca vitakko, paviveko ca. Abyāpajjhārāmo, bhikkhave, tathāgato abyāpajjharato. Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ abyāpajjhārāmaṁ abyāpajjharataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati: ‘imāyāhaṁ iriyāya na kañci byābādhemi tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti. Pavivekārāmo, bhikkhave, tathāgato pavivekarato. Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ pavivekārāmaṁ pavivekarataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati: ‘yaṁ akusalaṁ taṁ pahīnan’ti. Tasmātiha, bhikkhave, tumhepi abyāpajjhārāmā viharatha abyāpajjharatā. Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ abyāpajjhārāmānaṁ viharataṁ abyāpajjharatānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati: ‘imāya mayaṁ iriyāya na kañci byābādhema tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti. Pavivekārāmā, bhikkhave, viharatha pavivekaratā. Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ pavivekārāmānaṁ viharataṁ pavivekaratānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati: ‘kiṁ akusalaṁ, kiṁ appahīnaṁ, kiṁ pajahāmā’”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Two thoughts, mendicants, often occur to the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha: the thought of sanctuary, and that of seclusion. The Realized One loves kindness and delights in it, so this thought often occurs to him: ‘Through this behavior, I shall not hurt any creature firm or frail.’ The Realized One loves seclusion and delights in it, so this thought often occurs to him: ‘What is unskillful has been given up.’ So, mendicants, you too should love kindness and delight in it, then this thought will often occur to you: ‘Through this behavior, I shall not hurt any creature firm or frail.’ You too should love seclusion and delight in it, then this thought will often occur to you: ‘What is unskillful? What is not given up? What should I give up?’” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Như Lai, bậc Giác ngộ,
Bậc có thể nhẫn nại,
Những gì mà người khác,
Không có thể nhẫn nại,
Hai tầm tứ, vị ấy
Hành trì và thực hiện,
Trước hết được nói đến,
Là an ổn tầm tứ,
Thứ đến là ẩn dật,
Thứ hai được trình bày,
Phá tan màn hắc ám,
Đã đến bờ bên kia,
Bậc Đại sĩ đạt được,
Quyền lực không lậu hoặc,
Đạt thân mạng tối hậu
Trong ái diệt, giải thoát.
Vị ẩn sĩ như vậy,
Chắc mang thân tối hậu,
Ta nói rằng vị ấy
Từ bỏ được kiêu mạn,
Thoát khỏi được già lão,
Đạt được bờ bên kia.
Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi đầu non,
Đưa mắt nhìn xung quanh,
Quần chúng dưới chân mình,
Cũng vậy bậc Thiện tuệ,
Leo lên lầu Chánh pháp
Biến nhãn không sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh,
Bị ưu tư sầu khổ,
Bị sanh già áp bức.
“Tathāgataṁ buddhamasayhasāhinaṁ,
Duve vitakkā samudācaranti naṁ;
Khemo vitakko paṭhamo udīrito,
Tato viveko dutiyo pakāsito.
Tamonudaṁ pāragataṁ mahesiṁ,
Taṁ pattipattaṁ vasimaṁ anāsavaṁ;
Visantaraṁ taṇhakkhaye vimuttaṁ,
Taṁ ve muniṁ antimadehadhāriṁ;
Mārañjahaṁ brūmi jarāya pāraguṁ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito,
Yathāpi passe janataṁ samantato;
Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedho,
Pāsādamāruyha samantacakkhu;
Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko,
Avekkhati jātijarābhibhūtan”ti.
“Two thoughts occur to him, the Realized One, the bearer of the unbearable: first mentioned was thought of sanctuary, then the second made clear was seclusion. Dispeller of darkness, the great seer has crossed over: the attained, the master, the undefiled. In the midst of it all, <j>he is freed in the ending of craving; that sage bears his final body. He has disposed of Māra, I declare, <j>and gone beyond old age. Standing high on a rocky mountain, you can see the people all around. In just the same way, the All-seer, so intelligent, having ascended the Temple of Truth, rid of sorrow, looks upon the people swamped with sorrow, <j>overcome by rebirth and old age.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Tầm an ổn được kinh diễn tả bằng một câu rất cụ thể: không làm hại một ai, dầu là loài động vật hay không động vật. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, an ổn ở đây không phải là cảm giác yên ổn riêng tư mà là hướng tâm không gây hại, và hướng tâm ấy được đo bằng cách cư xử với mọi loài.

Tầm ẩn dật đi cùng với đoạn tận bất thiện. Kinh nói rằng đối với Như Lai ưa thích ẩn dật thì phàm có bất thiện gì đều được đoạn tận, và khuyên các Tỷ-kheo an trú hân hoan trong ẩn dật. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ẩn dật là khoảng lặng cần thiết để tâm thôi chạy theo điều bất thiện và nhìn rõ điều cần từ bỏ.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): một người trước khi nói câu nặng lời thì dừng lại, chọn cách nói không làm hại, rồi dành thời gian yên tĩnh buổi tối để nhìn lại tâm của người ấy trong ngày.

Hình ảnh đứng trên đỉnh núi trong phần kệ không nói về địa vị cao hơn người khác. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh ấy nói về tầm nhìn rộng khi tâm đã lắng, nhờ đó người tu tập thấy rõ sầu khổ và sanh già đang áp bức quần sanh mà không còn bị cuốn theo.

An trú trong tầm an ổn và tầm ẩn dật là con đường đoạn tận bất thiện mà kinh chỉ ra.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 38 (Vitakka Sutta, Itivuttaka 38). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 38 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp