Kinh Tập 2.8 · Snp 2.8

Kinh Con Thuyền

Nāvā Sutta

Còn gọi là: Kinh Chiếc Thuyền, Kinh Tập 2.8

Học Pháp với ai thì hãy kính trọng người ấy. Nhưng cũng phải chọn người để học: một người đang bị dòng nước cuốn đi thì không thể đưa ai qua sông.

Trước khi đọc kinh

Kinh Con Thuyền (Nāvā Sutta), còn gọi là Kinh Pháp (Dhamma Sutta), là bài kinh thứ tám trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập. Bài kệ đầu: học được Pháp từ người nào, hãy kính trọng người ấy như chư thiên kính trọng Thiên chủ Đế Thích (Inda); được kính trọng, bậc học rộng ấy sinh lòng tin mến người học và mở bày Pháp (kệ 1.1–1.4). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), bài kinh được nói nhân chuyện Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta). Ngài nhờ Ngài Mã Thắng (Assaji) mà biết đến giáo pháp của Đức Phật. Chuyện này có trong Luật tạng, phẩm Đại (Mahāvagga, Kd 1, đoạn 23.2–23.5): thấy Ngài Mã Thắng đi khất thực ở Vương Xá (Rājagaha) với dáng đi đứng trang nghiêm, Ngài Xá-lợi-phất, khi ấy còn là một du sĩ, đến xin nghe giáo pháp; chỉ nghe một bài kệ ngắn về nhân sinh khởi và sự đoạn diệt của các pháp, Ngài liền thấy được Pháp. Từ đó, khi ở cùng tu viện, hầu Đức Phật xong, Ngài Xá-lợi-phất liền đến hầu Ngài Mã Thắng; khi không ở cùng, Ngài hướng về phương nơi vị thầy đang ở mà đảnh lễ. Có những vị Tỷ-kheo thấy vậy, cho rằng Ngài vẫn còn giữ lối lạy các phương của Bà-la-môn. Đức Phật dạy: Xá-lợi-phất không lạy phương hướng, mà đảnh lễ vị thầy đã giúp mình hiểu giáo pháp; Xá-lợi-phất là người biết kính thầy. Rồi Ngài nói bài kinh này.

Phần giữa bài kinh so sánh hai kiểu thầy. Gần kẻ nhỏ nhen, ngu dốt, chưa đạt mục đích, lại hay ganh tị thì đến lúc chết vẫn chưa vượt qua nghi ngờ (kệ 3.1–3.4); chú giải giải “hay ganh tị” là không chịu nổi khi thấy học trò tiến bộ, và nói người theo thầy như vậy cũng thành ngu dốt, như ngọn cỏ gói cá ươn cũng nhiễm mùi hôi. Như người lội xuống dòng sông lớn đang chảy xiết, chính mình bị cuốn trôi thì làm sao đưa người khác qua (kệ 4.1–5.4). Ngược lại, người bước lên con thuyền chắc chắn, có đủ mái chèo và sào chống, biết cách, khéo tay, tháo vát thì đưa được nhiều người qua sông (kệ 6.1–6.4); cũng vậy, bậc đã hiểu biết, đã tu tập tâm, học rộng, không dao động thì giúp được người khác thấu hiểu, miễn là người ấy chịu lắng tai nghe (kệ 7.1–7.4). Theo chú giải, “không dao động” là không lay chuyển trước tám pháp thế gian như được và mất, khen và chê. Bài kinh khép lại: hãy gần gũi bậc chân nhân có trí tuệ và học rộng, hiểu rồi thực hành theo, sẽ được an lạc (kệ 8.1–8.4).

Ngày nay ai cũng có thể làm “thầy” trên mạng, nên lời kinh càng gần gũi. Muốn biết một người có đáng để mình theo học hay không, bạn có thể nhìn xem người ấy có đang bị dòng nước nào cuốn đi không: danh tiếng, lợi lộc, hay sự ganh đua? Người đã có thuyền vững thì bình thản trước khen chê, như lời dạy về tám pháp thế gian (AN 8.6). Bài kinh cũng nhắc phần việc của người học: kính trọng thầy, lắng tai nghe, và thực hành điều đã hiểu (kệ 7.4, 8.3). Kinh Thiện Hữu (SN 45.2) dạy rằng có bạn lành là trọn cả đời sống phạm hạnh. Tuần này, bạn thử nhớ đến một người đã dạy mình điều tốt, và gửi đến người ấy một lời cảm ơn.

Ý chính

  • Học được Pháp từ ai, hãy kính trọng người ấy như chư thiên kính trọng Đế Thích (1.1–1.2).
  • Người trí lắng nghe, thực hành đúng Pháp, nhờ không phóng dật mà gần gũi bậc thầy như thế (2.1–2.4).
  • Gần kẻ nhỏ nhen, ngu dốt, hay ganh tị thì đến chết vẫn chưa vượt qua nghi ngờ (3.1–3.4).
  • Người bị dòng nước cuốn trôi không thể đưa người khác qua sông (4.1–4.4).
  • Người có thuyền vững, biết cách, khéo tay đưa được nhiều người qua sông (6.1–6.4).
  • Hãy gần bậc chân nhân có trí tuệ và học rộng; hiểu rồi thực hành sẽ được an lạc (8.1–8.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
nāvā
con thuyền
bahussuta
người học rộng, nghe nhiều
sappurisa
bậc chân nhân, người tốt
usūyaka
người hay ganh tị; theo chú giải là thầy không chịu nổi khi thấy học trò tiến bộ
avitiṇṇakaṅkha
chưa vượt qua nghi ngờ
vedagū
người đã đạt hiểu biết; theo chú giải là bậc đã đi qua nhờ bốn đạo trí
avedhadhamma
không dao động; theo chú giải là không lay chuyển trước tám pháp thế gian
appamatta
không phóng dật: không buông lung, luôn tỉnh táo

Kinh Con Thuyền

1Từ vị nào một người,
Rõ biết được Chánh pháp,
Hãy đảnh lễ vị ấy,
Như chư Thiên, Inda,
Vị ấy được đảnh lễ,
Tâm tư sanh hoan hỷ,
Nghe nhiều, học hỏi nhiều,
Thuyết trình chơn diệu pháp.
Yasmā hi dhammaṁ puriso vijaññā, Indaṁva naṁ devatā pūjayeyya; So pūjito tasmi pasannacitto, Bahussuto pātukaroti dhammaṁ.If you would learn the teaching from someone, honor them as the gods honor Indra. Then they will have confidence in you, and being learned, they reveal the teaching.

2Vị sáng suốt chú tâm,
Suy tư và quán sát
Thực hành pháp tuỳ pháp,
Trở thành vị hiểu biết,
Thông minh và thận trọng,
Không phóng dật, vị ấy,
Theo gương vị như vậy.
Tadaṭṭhikatvāna nisamma dhīro, Dhammānudhammaṁ paṭipajjamāno; Viññū vibhāvī nipuṇo ca hoti, Yo tādisaṁ bhajati appamatto.Heeding well, an attentive one, practicing in line with that teaching grows intelligent, discerning, and subtle through diligently sticking close to such a person.

3Ai phục vụ kẻ ngu,
Ngu si, tâm bé nhỏ,
Mục đích chưa đạt được,
Lại ganh tị tật đố,
Chính ở đây Chánh pháp,
Không phát triển tu tập,
Chưa vượt thoát nghi hoặc,
Người ấy bị tử vong.
Khuddañca bālaṁ upasevamāno, Anāgatatthañca usūyakañca; Idheva dhammaṁ avibhāvayitvā, Avitiṇṇakaṅkho maraṇaṁ upeti.But associating with a petty fool who falls short of the goal, jealous, then unable to discern the teaching in this life, one proceeds to death still plagued by doubts.

4Như người nhảy xuống sông,
Dòng sông nước ngập tràn,
Nước sông, nhớp đục ngầu,
Dòng nước chảy nhanh mạnh
Người ấy bị lôi cuốn,
Theo dòng nước trôi đi,
Làm sao nó có thể,
Giúp người khác vượt dòng.
Yathā naro āpagamotaritvā, Mahodakaṁ salilaṁ sīghasotaṁ; So vuyhamāno anusotagāmī, Kiṁ so pare sakkhati tārayetuṁ.It’s like a man who has plunged into a river, a rushing torrent in spate. As they are swept away downstream, how could they help others across?

5Cũng vậy, với người nào,
Pháp không được tu tập,
Không quán sát ý nghĩa,
Của những vị nghe nhiều,
Tự mình không rõ biết,
Nghi hoặc chưa vượt qua,
Làm sao nó có thể,
Giúp người khác thiền định.
Tatheva dhammaṁ avibhāvayitvā, Bahussutānaṁ anisāmayatthaṁ; Sayaṁ ajānaṁ avitiṇṇakaṅkho, Kiṁ so pare sakkhati nijjhapetuṁ.Just so, one unable to discern the teaching, who hasn’t studied the meaning under the learned, not knowing it oneself, still plagued by doubts, how could they help others to contemplate?

6Như người được leo lên,
Chiếc thuyền mạnh vững chắc,
Được trang bị đầy đủ,
Mái chèo và tay lái;
Người như vậy ở đây,
Giúp nhiều người ngược dòng,
Rõ biết những phương tiện,
Thiện xảo và sáng suốt.
Yathāpi nāvaṁ daḷhamāruhitvā, Phiyena rittena samaṅgibhūto; So tāraye tattha bahūpi aññe, Tatrūpayaññū kusalo mutīmā.But one who has embarked on a strong boat equipped with rudder and oar, would bring many others across there with skill, care, and thoughtfulness.

7Như vậy, bậc sáng suốt,
Luôn luôn tự tu tập,
Bậc nghe nhiều hiểu nhiều,
Không còn bị dao động,
Vị ấy giúp đỡ được,
Các người khác tu thiền,
Làm khởi lên nguyên nhân,
Tha thiết muốn nghe pháp.
Evampi yo vedagu bhāvitatto, Bahussuto hoti avedhadhammo; So kho pare nijjhapaye pajānaṁ, Sotāvadhānūpanisūpapanne.So too one who understands—a knowledge master, evolved, learned, and unflappable— can help others to contemplate, so long as they are prepared to listen carefully.

8Do vậy, hãy thân cận,
Bậc chân nhân hiền sĩ,
Bậc sáng suốt, có trí,
Bậc nghe nhiều học nhiều.
Sau khi biết mục đích,
Cố gắng khéo hành trì,
Rõ biết được Chánh pháp,
Vị ấy được an lạc.
Tasmā have sappurisaṁ bhajetha, Medhāvinañceva bahussutañca; Aññāya atthaṁ paṭipajjamāno, Viññātadhammo sa sukhaṁ labhethāti. Nāvāsuttaṁ aṭṭhamaṁ.That’s why you should spend time with a true person, intelligent and learned. Having understood the meaning, putting it into practice, one who understands the teaching would find happiness.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 2.8 (Nāvā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.8 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp