Kinh Đầy Đủ Giới Hạnh
Sīlasampanna Sutta
Kinh Đầy Đủ Giới Hạnh nói rằng chỉ thấy, nghe, yết kiến, thân cận và nhớ nghĩ đến bậc đầy đủ giới, định, tuệ đã là lợi ích nhiều.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Chỉ thấy, nghe, yết kiến, thân cận, nhớ nghĩ và tùy theo bậc đầy đủ giới, định, tuệ xuất gia đã là lợi ích nhiều.
- Khi phục vụ và thân cận các vị ấy, giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến chưa đầy đủ sẽ được tu tập đầy đủ.
- Các vị ấy được gọi là Đạo sư, người cầm đầu đoàn lữ hành, bậc tác thành ánh sáng và người có mắt.
Kinh Đầy Đủ Giới Hạnh, Iti 104, thuộc bộ kinh Phật Thuyết Như Vậy, tức tập kinh nhỏ trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Kinh ghi lời dạy của đức Thế Tôn cho các vị Tỷ-kheo, tức các vị tu sĩ đã xuất gia theo Phật, về lợi ích của việc gần gũi các vị Tỷ-kheo đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Toàn bài kinh là một khối liền, gồm phần lời dạy bằng văn xuôi và phần kệ ở cuối. Kinh liệt kê những việc đem lại lợi ích nhiều, từ chỉ thấy các vị ấy cho đến tùy theo các vị ấy xuất gia, rồi giải thích vì sao: khi phục vụ và thân cận các vị ấy, giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn và giải thoát tri kiến uẩn chưa đầy đủ sẽ được tu tập đầy đủ. Phần kệ gọi các vị ấy bằng nhiều danh xưng như Đạo sư và người có mắt.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sīla
- giới, giới hạnh
- samādhi
- định, sự an định của tâm
- paññā
- tuệ, trí tuệ
- vimutti
- giải thoát
- vimuttiñāṇadassana
- giải thoát tri kiến, thấy biết về giải thoát
- satthā
- Đạo sư, bậc thầy dẫn đường
- satthavāha
- người cầm đầu đoàn lữ hành
- raṇañjaha
- vị đã từ bỏ nguyên nhân tác hại
- ālokakara
- vị tác thành ánh sáng
- cakkhumantu
- người có mắt, người có mắt trí tuệ
Kinh Đầy Đủ Giới Hạnh
1Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến, những vị giáo giới, những vị giảng dạy, những vị tuyên bố, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, những bậc xứng đáng thuyết minh diệu pháp, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ thấy các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ nghe các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ đi đến yết kiến các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ thân cận các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ nhớ nghĩ đến các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ tùy theo các vị như vậy xuất gia là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy. Vì cớ sao?
Này các Tỷ-kheo, khi phục vụ, chia sẻ, thân cận những Tỷ-kheo như vậy, thời giới uẩn chưa được đầy đủ đi đến được tu tập đầy đủ, định uẩn chưa được đầy đủ đi đến được tu tập đầy đủ, tuệ uẩn chưa được đầy đủ đi đến tu tập đầy đủ, giải thoát uẩn chưa được đầy đủ, đi đến được tu tập đầy đủ, giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ đi đến được tu tập đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo như vậy được gọi là những bậc Đạo sư, được gọi là những người cầm đầu đoàn lữ hành, được gọi là những vị đã từ bỏ những nguyên nhân tác hại, được gọi là những vị quét sạch tối tăm, được gọi là những vị tác thành minh, được gọi là những vị tác thành quang; được gọi là những vị tác thành ánh sáng, được gọi là những vị cầm bó đuốc, được gọi là những vị phóng quang, được gọi là những bậc Thánh, được gọi là những người có mắt.
Đây là căn cứ địa
Những vị phóng hào quang,
Chính nhờ hiểu biết vậy,
Tức là, đối tự ngã,
Những vị có tu tập,
Là những bậc Hiền Thánh,
Sống đúng theo Chánh pháp,
Họ chói sáng diệu pháp,
Họ nói lên diệu pháp,
Họ phóng được hào quang
Là những bậc có trí,
Tác thành ra ánh sáng,
Họ là người có mắt,
Họ từ bỏ nguyên nhân
Tạo ra điều tác hại,
Bậc trí với chánh trí,
Nghe lời dạy vị ấy,
Do thắng tri sanh diệt,
Không đi đến tái sanh.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ye te, bhikkhave, bhikkhū sīlasampannā samādhisampannā paññāsampannā vimuttisampannā vimuttiñāṇadassanasampannā ovādakā viññāpakā sandassakā samādapakā samuttejakā sampahaṁsakā alaṁsamakkhātāro saddhammassa dassanampahaṁ, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāraṁ vadāmi; savanampahaṁ, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāraṁ vadāmi; upasaṅkamanampahaṁ, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāraṁ vadāmi; payirupāsanampahaṁ, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāraṁ vadāmi; anussaraṇampahaṁ, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāraṁ vadāmi; anupabbajjampahaṁ, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāraṁ vadāmi. Taṁ kissa hetu? Tathārūpe, bhikkhave, bhikkhū sevato bhajato payirupāsato aparipūropi sīlakkhandho bhāvanāpāripūriṁ gacchati, aparipūropi samādhikkhandho bhāvanāpāripūriṁ gacchati, aparipūropi paññākkhandho bhāvanāpāripūriṁ gacchati, aparipūropi vimuttikkhandho bhāvanāpāripūriṁ gacchati, aparipūropi vimuttiñāṇadassanakkhandho bhāvanāpāripūriṁ gacchati. Evarūpā ca te, bhikkhave, bhikkhū satthārotipi vuccanti, satthavāhātipi vuccanti, raṇañjahātipi vuccanti, tamonudātipi vuccanti, ālokakarātipi vuccanti, obhāsakarātipi vuccanti, pajjotakarātipi vuccanti, ukkādhārātipi vuccanti, pabhaṅkarātipi vuccanti, ariyātipi vuccanti, cakkhumantotipi vuccantī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Pāmojjakaraṇaṁ ṭhānaṁ, etaṁ hoti vijānataṁ; Yadidaṁ bhāvitattānaṁ, ariyānaṁ dhammajīvinaṁ. Te jotayanti saddhammaṁ, bhāsayanti pabhaṅkarā; Ālokakaraṇā dhīrā, cakkhumanto raṇañjahā. Yesaṁ ve sāsanaṁ sutvā, sammadaññāya paṇḍitā; Jātikkhayamabhiññāya, nāgacchanti punabbhavan”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom. They advise and instruct. They educate, encourage, fire up, and inspire, and can rightly explain the true teaching. Even the sight of those mendicants is very helpful, I say. Even to hear them, approach them, pay homage to them, recollect them, or go forth after them is very helpful, I say. Why is that? For one who frequents and associates with such mendicants, their incomplete spectrum of ethics is completed. Their incomplete spectrum of immersion … wisdom … freedom … knowledge and vision of freedom is completed. Such mendicants are called ‘teachers’, ‘caravan leaders’, ‘strife-discarders’, ‘dispellers of darkness’, ‘bringers of light’, ‘luminaries’, ‘lamps’, ‘candlebearers’, ‘beacons’, ‘noble ones’, and ‘clear-eyed ones’.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “This is a reason for joy for those who understand: that is, those who are evolved, the noble ones living righteously. They illuminate the true teaching, beacons beaming light, the attentive ones bringing light, clear-eyed ones with strife discarded. Having heard their instruction, the astute, understanding rightly, directly know the ending of rebirth, they come not back to future lives.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nói chỉ thấy bậc đầy đủ giới, định, tuệ đã là lợi ích nhiều, huống nữa là nghe, yết kiến, thân cận, nhớ nghĩ và tùy theo các vị ấy xuất gia. Điều này cho thấy lợi ích không đến từ nghi lễ cầu xin mà từ sự gần gũi và học hỏi nơi người đã thành tựu. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ chỉ thấy ở đây nhắc rằng ngay cả một lần gặp gỡ đúng người cũng có thể mở ra hướng tu tập mới.
Kinh giải thích vì sao việc thân cận đem lại lợi ích: khi phục vụ và thân cận các vị ấy, giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến chưa đầy đủ sẽ được tu tập đầy đủ. Người tu tập chưa đầy đủ không tự làm đầy đủ bằng cách ngồi chờ, mà bằng cách gần gũi người đã đầy đủ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đây là cách kinh nói về vai trò của thiện hữu: sự đầy đủ được nuôi lớn trong quan hệ gần gũi, không phải trong sự tách biệt.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Lan mới học Phật, chị hay tự học qua sách vở nhưng vẫn thấy tâm chưa yên. Khi chị bắt đầu đến chùa nghe pháp đều đặn và hỏi han một vị sư già về cách giữ giới trong đời sống hằng ngày, chị thấy việc giữ giới trở nên rõ ràng và dễ thực hành hơn trước (không phải lời kinh).
Phần kệ gọi các vị ấy là Đạo sư, người cầm đầu đoàn lữ hành, vị đã từ bỏ nguyên nhân tác hại, vị tác thành ánh sáng và người có mắt. Những danh xưng này đều chỉ về khả năng dẫn đường: người có mắt thì thấy đường, người cầm đuốc thì soi đường cho người khác. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, người đọc có thể tự xét xem đang gần ai và học từ ai, vì bạn đồng hành trên đường tu ảnh hưởng trực tiếp đến sự tu tập.
Gần bậc đầy đủ giới, định, tuệ là lợi ích nhiều, vì nhờ thân cận các vị ấy mà giới, định, tuệ của chính người tu tập được tu tập đầy đủ.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 104 (Sīlasampanna Sutta, Itivuttaka 104). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 104 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Bốn Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.