Kinh Tịnh Tín Tối Thượng
Aggappasāda Sutta
Kinh Tịnh Tín Tối Thượng nói về lòng tin nơi đức Phật, nơi pháp ly tham và nơi Tăng chúng, và nói quả của lòng tin ấy là quả tối thượng.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Lòng tin nơi đức Phật là lòng tin nơi bậc tối thượng trong các chúng sanh.
- Lòng tin nơi pháp ly tham là lòng tin nơi điều tối thượng trong các pháp.
- Lòng tin nơi Tăng chúng là lòng tin nơi hội chúng tối thượng, ruộng phước vô thượng ở đời.
Kinh Tịnh Tín Tối Thượng là bài kinh số 90 trong tập Phật Thuyết Như Vậy, tức bản dịch tiếng Việt của tập kinh Itivuttaka trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của bộ kinh. Kinh mở đầu bằng lời kể rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và người kể đã được nghe, rồi đức Phật dạy các vị Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia nam trong Tăng đoàn, về ba lòng tín thành tối thượng.
Cấu trúc kinh gồm hai phần. Phần đầu nêu ba điều tối thượng là đức Phật, pháp ly tham và Tăng chúng, cùng với quả dị thục tối thượng của lòng tin nơi mỗi điều. Phần sau là bài kệ nói về người có lòng tin nơi ba điều tối thượng, về sự bố thí với đối tượng tối thượng và về quả lành đi kèm như thọ mạng, dung sắc, danh vọng, an lạc và sức mạnh.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- <i>aggappasādā</i>
- lòng tín thành nơi tối thượng
- <i>tathāgato</i>
- Như Lai
- <i>arahaṁ</i>
- bậc A-la-hán
- <i>sammāsambuddho</i>
- bậc Chánh đẳng Chánh giác
- <i>virāgo</i>
- sự ly tham
- <i>nibbānaṁ</i>
- Niết-bàn
- <i>puññakkhettaṁ</i>
- ruộng phước
- <i>vipāko</i>
- quả dị thục
Kinh Tịnh Tín Tối Thượng
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba tín thành tối thượng này. Thế nào là ba?
Này các Tỷ-kheo, so sánh các chúng sanh, không chân, hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không có sắc, có tưởng, không có tưởng, hay không có tưởng không không có tưởng. Như Lai được xem là tối thượng đối với chúng, tức là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tin thành với đức Phật, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng. Với những ai có lòng tín thành nơi tối thượng, quả dị thục là quả tối thượng.
Này các Tỷ-kheo, so sánh các pháp hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng đối với họ, tức là kiêu mạn bị nhiếp phục, khát ái bị chế ngự, chấp nhận được nhổ lên, lưu chuyển bị cắt đứt, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tín thành nơi ly tham, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng; với những ai có lòng tin nơi tối thượng, quả dị thục là quả tối thượng.
Này các Tỷ-kheo, so sánh Tăng chúng hay hội chúng, Tăng chúng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tín thành nơi Tăng chúng, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng. Với những ai có lòng tín thành nơi tối thượng, này các Tỷ-kheo có ba quả dị thục là quả tối thượng.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, aggappasādā. Katame tayo? Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññināsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho. Ye, bhikkhave, buddhe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti. Yāvatā, bhikkhave, dhammā saṅkhatā vā asaṅkhatā vā, virāgo tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ madanimmadano pipāsavinayo ālayasamugghāto vaṭṭupacchedo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ye, bhikkhave, virāge dhamme pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti. Yāvatā, bhikkhave, saṅghā vā gaṇā vā, tathāgatasāvakasaṅgho tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Ye, bhikkhave, saṅghe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti. Ime kho, bhikkhave, tayo aggappasādā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, these three kinds of confidence are the best. What three? Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. Those who have confidence in the Buddha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best. Fading away is said to be the best of all things whether conditioned or unconditioned. That is, the quelling of vanity, the removing of thirst, the uprooting of clinging, the breaking of the round, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. Those who have confidence in the teaching of fading away have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best. The Saṅgha of the Realized One’s disciples is said to be the best of all communities and groups. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. Those who have confidence in the Saṅgha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best. These are the three best kinds of confidence.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Những ai có lòng tin,
Lòng tín nơi tối thượng,
Chính là sự rõ biết,
Biết Chánh pháp tối thượng.
Những ai có lòng tin,
Nơi đức Phật tối thượng,
Bậc Vô thượng xứng đáng,
Xứng đáng được cúng dường.
Những ai có lòng tin,
Nơi Chánh pháp tối thượng,
Những pháp rời bỏ tham,
An tịnh, thật tịnh lạc.
Những ai có lòng tin,
Nơi Tăng chúng tối thượng.
Những ruộng phước công đức,
Vô thượng không gì hơn.
Những ai đã bố thí,
Với đối tượng tối thượng,
Công đức được tăng trưởng,
Tăng trưởng đến tối thượng.
Thọ mạng được tối thượng,
Dung sắc cũng tối thượng,
Danh vọng, tiếng đồn tốt,
An lạc và sức mạnh.
Bậc trí có bố thí,
Bố thí vị tối thượng,
Vị định tĩnh, thiền định,
Trong Chánh pháp tối thượng,
Chư Thiên hay loài Người,
Đạt được sự tối thượng,
Họ sung sướng hân hoan.“Aggato ve pasannānaṁ,
aggaṁ dhammaṁ vijānataṁ;
Agge buddhe pasannānaṁ,
dakkhiṇeyye anuttare.
Agge dhamme pasannānaṁ,
virāgūpasame sukhe;
Agge saṅghe pasannānaṁ,
puññakkhette anuttare.
Aggasmiṁ dānaṁ dadataṁ,
aggaṁ puññaṁ pavaḍḍhati;
Aggaṁ āyu ca vaṇṇo ca,
yaso kitti sukhaṁ balaṁ.
Aggassa dātā medhāvī,
aggadhammasamāhito;
Devabhūto manusso vā,
aggappatto pamodatī”ti.“For those who, knowing the best teaching, base their confidence on the best— confident in the best Awakened One, supremely worthy of a religious donation; confident in the best teaching, the bliss of fading and stilling; confident in the best Saṅgha, the supreme field of merit— giving gifts to the best, the best of merit grows: the best lifespan, beauty, fame, reputation, happiness, and strength. An intelligent person gives to the best, settled on the best teaching. When they become a god or human, they rejoice at reaching the best.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu ba tín thành tối thượng là đức Phật, pháp ly tham và Tăng chúng, và nói người có lòng tin nơi điều tối thượng thì quả dị thục cũng là quả tối thượng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, lòng tin ở đây gắn với sự thấy biết đức Phật là bậc đã giác ngộ hoàn toàn, chứ không phải lòng tin không có cơ sở.
Với đức Phật, kinh đặt Như Lai ở vị trí tối thượng khi so sánh với mọi chúng sanh, từ loài không chân đến loài nhiều chân, loài có sắc và loài không có sắc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự so sánh rộng như vậy cho thấy lòng tin nơi đức Phật không đặt song song với lòng tin nơi một đối tượng nào khác trong các chúng sanh.
Với pháp, kinh gọi ly tham là tối thượng trong các pháp hữu vi và vô vi, và kể ra các trạng thái đi kèm như kiêu mạn bị nhiếp phục, khát ái bị chế ngự, ái diệt và Niết-bàn. Với Tăng chúng, kinh gọi Tăng chúng đệ tử của Như Lai là tối thượng trong các hội chúng, gồm bốn đôi tám vị, và là ruộng phước vô thượng ở đời. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cả ba điều đều hướng về cùng một điểm là sự đoạn trừ tham ái, chứ không dừng ở lòng kính trọng bên ngoài.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Lan mỗi sáng dành ít phút đọc một đoạn kinh ngắn trước khi đi làm, và chị giữ thói quen giữ giới trong ngày làm việc (không phải lời kinh). Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thói quen nhỏ và đều đặn như vậy giúp lòng tin của chị gắn với việc thực hành hằng ngày, thay vì chỉ nằm ở lời nói.
Phần kệ cuối kinh nói về người bố thí với đối tượng tối thượng thì công đức tăng trưởng đến tối thượng, cùng với thọ mạng, dung sắc, danh vọng, an lạc và sức mạnh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, quả tối thượng ở đây được kinh nói như kết quả của lòng tin và sự bố thí, và bạn có thể đọc phần kệ để thấy trọn vẹn điều kinh nói.
Lòng tin nơi Phật, Pháp, Tăng là lòng tin nơi điều tối thượng, và quả của lòng tin ấy cũng tối thượng.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 90 (Aggappasāda Sutta, Itivuttaka 90). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 90 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.