Phật Thuyết Như Vậy 92 · Iti 92

Kinh Vạt Y

Saṅghāṭikaṇṇa Sutta

Kinh Vạt Y nói người đi sát sau đức Phật mà không thấy Pháp thì vẫn xa, còn người ở rất xa mà thấy Pháp thì vẫn gần đức Phật.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người nắm vạt y đi sau đức Phật mà còn tham ái và thất niệm thì xa hẳn đức Phật.
  • Người ở rất xa mà không tham ái, chánh niệm và định tĩnh thì gần hẳn đức Phật.
  • Thấy Pháp là thấy đức Phật, vì người thấy Pháp thì gần, người không thấy Pháp thì xa.

Kinh Vạt Y là bài kinh số 92 trong tập Phật Thuyết Như Vậy, tức bản dịch tiếng Việt của tập kinh Itivuttaka trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của bộ kinh. Kinh mở đầu bằng lời kể rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và người kể đã được nghe.

Kinh gồm một khối liền, đặt hai trường hợp đối nhau. Một bên là vị Tỷ-kheo, tức vị xuất gia nam trong Tăng đoàn, nắm viền áo Tăng-già đi sát sau đức Phật mà vẫn xa, vì vị ấy không thấy Pháp. Một bên là vị Tỷ-kheo ở xa trăm do-tuần, tức đơn vị đo khoảng cách xưa, mà vẫn gần, vì vị ấy thấy Pháp. Bài kệ cuối kinh nhắc lại sự đối chiếu này bằng hình ảnh ao nước không gió thổi, không dao động và tịnh chỉ.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
<i>saṅghāṭikaṇṇe</i>
viền áo Tăng-già
<i>dhammaṁ</i>
Pháp
<i>abhijjhālu</i>
có tham ái trong các dục
<i>byāpannacitto</i>
tâm sân hận
<i>muṭṭhassati</i>
thất niệm
<i>samāhito</i>
định tĩnh
<i>ekaggacitto</i>
nhất tâm

Kinh Vạt Y

1Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo nắm lấy viền áo Tăng-già lê đi theo sau lưng Ta, chân bước theo chân, nhưng vị ấy có tham ái trong các dục, với lòng sắc xảo, với tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại, vị ấy xa hẳn Ta và Ta xa vị ấy. Vì cớ sao?

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không thấy Pháp. Do không thấy Pháp nên không thấy Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống xa đến một trăm do-tuần và vị ấy không có tham ái trong các dục, với lòng tham không sắc xảo, tâm không sân hận, ý tư duy không nhiễm ác, chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh nhất tâm, các căn được chế ngự, vị ấy gần hẳn Ta và Ta gần vị ấy. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy thấy Pháp. Do thấy Pháp nên thấy Ta.

Nếu có thể bước theo,
Nhưng nhiều dục bực phiền.
Hãy xem người như vậy,
Thật là xa, rất xa,
Xa giữa người ái dục
Và người không ái dục,
Xa giữa người lắng dịu
Và người không lắng dịu,
Xa giữa người tham ái
Và người đã trừ ái.
Sau khi thắng tri Pháp,
Bậc Hiền trí biết Pháp,
Như ao không gió thổi,
Không dao động, tịnh chỉ.
Hãy xem người như vậy,
Thật là gần, rất gần,
Gần giữa người không ái,
Và người không có ái,
Gần giữa người lắng dịu,
Và người được lắng dịu,
Gần giữa người không tham,
Và người trừ tham ái.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Saṅghāṭikaṇṇe cepi, bhikkhave, bhikkhu gahetvā piṭṭhito piṭṭhito anubandho assa pāde pādaṁ nikkhipanto, so ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo; atha kho so ārakāva mayhaṁ, ahañca tassa. Taṁ kissa hetu? Dhammañhi so, bhikkhave, bhikkhu na passati. Dhammaṁ apassanto na maṁ passati. Yojanasate cepi so, bhikkhave, bhikkhu vihareyya. So ca hoti anabhijjhālu kāmesu na tibbasārāgo abyāpannacitto apaduṭṭhamanasaṅkappo upaṭṭhitassati sampajāno samāhito ekaggacitto saṁvutindriyo; atha kho so santikeva mayhaṁ, ahañca tassa. Taṁ kissa hetu? Dhammañhi so, bhikkhave, bhikkhu passati; dhammaṁ passanto maṁ passatī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Anubandhopi ce assa, mahiccho ca vighātavā; Ejānugo anejassa, nibbutassa anibbuto; Giddho so vītagedhassa, passa yāvañca ārakā. Yo ca dhammamabhiññāya, dhammamaññāya paṇḍito; Rahadova nivāte ca, anejo vūpasammati. Anejo so anejassa, nibbutassa ca nibbuto; Agiddho vītagedhassa, passa yāvañca santike”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Tatiyaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, suppose a mendicant were to hold the corner of my cloak and follow behind me step by step. Yet they covet sensual pleasures; they’re infatuated, full of ill will and malicious intent. They are unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties. Then they are far from me, and I from them. Why is that? Because that mendicant does not see the teaching. Not seeing the teaching, they do not see me. Suppose a mendicant were to live a hundred leagues away. Yet they do not covet sensual pleasures; they’re not infatuated, or full of ill will and malicious intent. They have established mindfulness, situational awareness and immersion, with unified mind and restrained faculties. Then they are close to me, and I to them. Why is that? Because that mendicant sees the teaching. Seeing the teaching, they see me.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “One full of desire and distress may follow close behind, yet see how distant they are— the stirred from the still, the burning from the quenched, the greedy from the greedless. An astute person who has understood and directly known the teaching, grows calm, as unperturbed as a lake free of wind. See how close they are— the still to the still, the quenched to the quenched, the greedless to the greedless.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh đặt ra trường hợp một vị Tỷ-kheo nắm lấy viền áo Tăng-già, đi theo sau lưng đức Phật, chân bước theo chân, nhưng vị ấy còn tham ái trong các dục, tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn và các căn hoang dại. Kinh nói vị ấy xa hẳn đức Phật và đức Phật xa vị ấy, vì vị ấy không thấy Pháp, và do không thấy Pháp nên không thấy đức Phật.

Trường hợp ngược lại là vị Tỷ-kheo sống xa đến một trăm do-tuần, nhưng vị ấy không có tham ái trong các dục, tâm không sân hận, ý tư duy không nhiễm ác, chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh nhất tâm và các căn được chế ngự. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh đo khoảng cách gần xa bằng tâm chứ không đo bằng bước chân, nên người ở xa mà sống đúng Pháp vẫn được kinh gọi là gần.

Phần kệ cuối kinh nhắc lại sự xa giữa người ái dục và người không ái dục, giữa người lắng dịu và người không lắng dịu, giữa người tham ái và người đã trừ ái, rồi ví bậc Hiền trí biết Pháp như ao không gió thổi, không dao động, tịnh chỉ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh ao lặng giúp bạn hình dung tâm định tĩnh là trạng thái lặng và không dao động.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Lan đi chùa đều mỗi tuần và ngồi gần nơi thuyết pháp, nhưng chị vẫn giữ thói quen nói lời làm người khác khó chịu khi về nhà (không phải lời kinh). Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chỗ ngồi gần chưa làm chị gần Pháp nếu lời nói và tâm của chị chưa đổi, còn người ở nhà mà giữ lời nói hiền lành thì vẫn đang sống gần Pháp.

Câu then chốt của kinh là thấy Pháp thì thấy đức Phật, và không thấy Pháp thì không thấy đức Phật. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bạn có thể dùng câu này làm thước đo cho việc học Pháp của bạn, bằng cách xem tâm bạn có bớt tham ái và bớt sân hận hay không, thay vì đo bằng khoảng cách từ chỗ bạn ngồi đến nơi thuyết pháp.

Gần hay xa đức Phật được kinh đo bằng việc thấy Pháp, chứ không đo bằng khoảng cách bước chân.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 92 (Saṅghāṭikaṇṇa Sutta, Itivuttaka 92). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 92 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp