Kinh Dhaniya
Dhaniya Sutta
Còn gọi là: Kinh Người Chăn Bò, Kinh Tập 1.2
Một đêm sắp mưa, người chăn bò Dhaniya mãn nguyện vì nhà cửa, vợ con, đàn bò đã yên ổn. Đức Phật đáp lại từng câu của ông bằng một thứ yên ổn khác hẳn.
Trước khi đọc kinh
Kinh Dhaniya (Dhaniya Sutta) là bài kinh thứ hai trong phẩm Rắn (Uragavagga) của Kinh Tập. Cả bài là một cuộc đối đáp bằng kệ. Người chăn bò Dhaniya sống bên bờ sông Mahī, nói: cơm đã nấu, sữa đã vắt, mái chòi đã lợp, lửa đã nhóm lên, vậy nếu muốn mưa, trời cứ mưa đi (kệ 1.1–1.5). Đức Phật đáp lại bằng chính khuôn câu ấy: Ta không còn sân hận, lòng đã hết chai cứng, Ta chỉ nghỉ lại một đêm, mái chòi đã mở, lửa đã tắt (kệ 2.1–2.5). Trong tiếng Pāli, hai câu đầu chơi chữ với nhau: pakkodano (cơm đã nấu) với akkodhano (không còn sân hận), duddhakhīro (sữa đã vắt) với vigatakhilo (hết chai cứng). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), Dhaniya có ba vạn con bò; mùa mưa, ông dời cả nhà sang bờ bên kia sông Mahī, đến một chỗ nước lũ không ngập tới. Đức Phật đang ở Kỳ Viên (Jetavana), nghe lời ông bằng thiên nhĩ, thấy hai vợ chồng ông đủ duyên để giác ngộ, nên đến ngay đêm ấy. Chú giải giải “mái chòi” là thân này, “mái đã mở” là không còn phiền não che phủ, và “lửa đã tắt” là lửa tham cùng mọi thứ lửa phiền não đã được dập tắt từ dưới cội Bồ-đề, như lời Kinh Lửa Cháy (SN 35.28).
Mỗi điều Dhaniya tự hào đều được Đức Phật đáp bằng một điều tương ứng. Ông có bãi cỏ tốt, không ruồi muỗi; Đức Phật đã kết bè, đã sang bờ bên kia, không cần bè nữa (kệ 3–4), hình ảnh gần với ví dụ chiếc bè trong Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22). Ông có người vợ biết vâng lời; Đức Phật có cái tâm biết vâng lời, đã giải thoát, đã khéo điều phục (kệ 5–6). Ông tự nuôi sống mình; Đức Phật không làm thuê cho ai (kệ 7–8). Ông có đàn bò, cọc chắc, dây mới; Đức Phật không có gì cả, và như bò mộng bứt đứt dây trói, như voi giật đứt dây leo mục, sẽ không còn nằm trong bào thai nữa (kệ 9–12). Ngay lúc ấy trời đổ mưa lớn; Dhaniya và vợ xin quy y, xin sống đời phạm hạnh (kệ 13–15). Ma vương (Māra) liền xen vào: người có con vui vì con, có bò vui vì bò. Đức Phật đáp: người có con sầu vì con, có bò sầu vì bò; chỗ bám víu là nỗi sầu của con người (kệ 16–17). Theo chú giải, cuối bài kệ thứ mười hai, Dhaniya, vợ và hai con gái chứng quả Nhập lưu; về sau hai vợ chồng xuất gia và chứng quả A-la-hán.
Bài kinh không chê Dhaniya chăm lo nhà cửa. Ông là người tại gia giỏi giang, có vợ hiền, con khỏe, làm ăn tự lập. Điều bài kinh cho thấy là hai loại yên ổn: một loại dựa vào những gì mình có, nên luôn kèm theo nỗi lo mất; một loại đến từ cái tâm không còn bám víu, nên mưa gió gì cũng không lay được. Lời của Ma vương và lời của Đức Phật đặt cạnh nhau rất đáng suy ngẫm: con cái, của cải vừa là niềm vui vừa là nỗi sầu, tùy ta bám chặt đến đâu. Lần tới khi thấy mình thở phào vì “mọi thứ đã lo xong”, bạn thử hỏi thêm: còn cái tâm của mình, đã được lo cho yên chưa?
Ý chính
- Dhaniya: cơm đã nấu, sữa đã vắt, mái chòi đã lợp, lửa đã nhóm, trời cứ mưa đi (1.1–1.5).
- Đức Phật: không còn sân hận, lòng đã hết chai cứng, mái chòi đã mở, lửa đã tắt (2.1–2.5).
- Bè đã kết khéo, đã sang bờ bên kia, không còn cần đến bè (4.1–4.4).
- Tâm biết vâng lời, đã giải thoát, đã được vun bồi lâu ngày và khéo điều phục (6.1–6.4).
- Như bò mộng bứt dây, như voi giật dây leo mục, không còn tái sinh vào bào thai (12.1–12.4).
- Ma vương nói chỗ bám víu là niềm vui; Đức Phật nói chỗ bám víu là nỗi sầu (16.4–17.5).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- gopa
- người chăn bò
- akkodhana
- không còn sân hận
- vigatakhila
- hết chai cứng trong lòng
- kuṭi
- mái chòi; theo chú giải là thân này
- bhisī
- chiếc bè
- assava
- biết vâng lời, dễ bảo
- upadhi / nirupadhi
- chỗ bám víu / không còn chỗ bám víu
- gabbhaseyyā
- nằm trong bào thai, tức tái sinh
Kinh Dhaniya
1Dhaniya:
Cơm ta, nấu đã chín,
Sữa uống, ta vắt xong,
Mục đồng Dhaniya,
Đã nói lên như vậy.
Trên bờ sông Mahì,
Ta chung sống đồng cư,
Chòi lá được khéo lợp,
Lửa đốt được cháy đỏ.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Pakkodano duddhakhīrohamasmi, (iti dhaniyo gopo) Anutīre mahiyā samānavāso; Channā kuṭi āhito gini, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I’ve boiled my rice and drawn my milk,” said Dhaniya the rancher, “I stay with my family along the bank of the Mahī. My hut is roofed, my sacred fire kindled: so rain forth, heavens, if you wish.”
2Thế Tôn:
Ta đoạn được phẫn nộ,
Tâm hoang vu không còn,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đã nói lên như vậy.
Trên bờ sông Mahì,
Ta chỉ sống một đêm,
Chòi lá được rộng mở,
Lửa đốt được tịch tịnh.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Akkodhano vigatakhilohamasmi, (iti bhagavā) Anutīre mahiyekarattivāso; Vivaṭā kuṭi nibbuto gini, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I boil not with anger and have drawn out hard-heartedness,” said the Buddha, “I stay for one night along the bank of the Mahī. My hut is wide open, my fire is quenched: so rain forth, heavens, if you wish.”
3Dhaniya:
Ruồi lằn và muỗi mòng,
Ở đây không tìm thấy,
Mục đồng Dhaniya,
Đã nói lên như vậy.
Trên cánh đồng cỏ mọc,
Đàn bò đi ăn cỏ,
Dầu cơn mưa có đến,
Chúng có thể chịu đựng.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Andhakamakasā na vijjare, (iti dhaniyo gopo) Kacche rūḷhatiṇe caranti gāvo; Vuṭṭhimpi saheyyumāgataṁ, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“No gadflies or mosquitoes are found,” said Dhaniya, “cows graze on the lush meadow grass. They get by even when the rain comes: so rain forth, heavens, if you wish.”
4Thế Tôn:
Các bè đã được cột,
Khéo tác thành tốt đẹp,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đã nói lên như vậy.
Ai qua được bờ kia,
Nhiếp phục dòng nước mạnh,
Lợi ích của chiếc bè,
Đâu còn thấy cần thiết.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Baddhāsi bhisī susaṅkhatā, (iti bhagavā) Tiṇṇo pāragato vineyya oghaṁ; Attho bhisiyā na vijjati, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I bound a raft and prepared it well,” said the Buddha, “and with it I crossed over, went to the far shore, and dispelled the flood. Now I have no need for a raft: so rain forth, heavens, if you wish.”
5Dhaniya:
Vợ ta khéo nhu thuận,
Không có tham dục gì,
Mục đồng Dhaniya
Đã nói lên như vậy.
Đã lâu ngày chung sống,
Vừa đẹp ý đẹp lòng,
Ta không nghe điều gì,
Thuộc ác hạnh về nàng.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Gopī mama assavā alolā, (iti dhaniyo gopo) Dīgharattaṁ saṁvāsiyā manāpā; Tassā na suṇāmi kiñci pāpaṁ, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“My wife is obedient, not wanton,” said Dhaniya, “long have we lived together happily. I hear nothing bad about her: so rain forth, heavens, if you wish.”
6Thế Tôn:
Tâm Ta khéo nhu thuận,
Được giải thoát, mở rộng,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đã nói lên như vậy.
Lâu ngày tu viên mãn,
Khéo nhiếp phục chế ngự,
Trong Ta các pháp ác,
Không còn được tìm thấy.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Cittaṁ mama assavaṁ vimuttaṁ, (iti bhagavā) Dīgharattaṁ paribhāvitaṁ sudantaṁ; Pāpaṁ pana me na vijjati, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“My mind is obedient and freed,” said the Buddha, “long nurtured and well-tamed. Nothing bad is found in me: so rain forth, heavens, if you wish.”
7Dhaniya:
Với lợi tức thâu hoạch,
Ta tự nuôi sống ta,
Mục đồng Dhaniya
Đã nói lên như vậy,
Con ta và cả ta,
Sống chung không bệnh hoạn,
Ta không nghe điều gì,
Thuộc ác hạnh về chúng.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Attavetanabhatohamasmi, (iti dhaniyo gopo) Puttā ca me samāniyā arogā; Tesaṁ na suṇāmi kiñci pāpaṁ, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I am self-employed,” said Dhaniya, “and my healthy children likewise. I hear nothing bad about them: so rain forth, heavens, if you wish.”
8Thế Tôn:
Ta không có làm mướn,
Cho một ai ở đời,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đã nói lên như vậy
Với điều được chứng đắc,
Ta du hành thế giới,
Về tiền công cần thiết,
Không thể có nơi Ta.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Nāhaṁ bhatakosmi kassaci, (iti bhagavā) Nibbiṭṭhena carāmi sabbaloke; Attho bhatiyā na vijjati, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I am no one’s lackey,” said the Buddha, “with what I have earned I wander the world. I have no need for wages: so rain forth, heavens, if you wish.”
9Dhaniya:
Đây có các bò cái,
Đây có các bò con,
Mục đồng Dhaniya
Đã nói lên như vậy.
Đây có những bò mẹ,
Mang thai, nối giống dòng,
Đây có những bò đực,
Những con chúa đầu đàn.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Atthi vasā atthi dhenupā, (iti dhaniyo gopo) Godharaṇiyo paveṇiyopi atthi; Usabhopi gavampatīdha atthi, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I have heifers and sucklings,” said Dhaniya, “cows in calf and breeding cows. I’ve also got a bull, captain of the herd here: so rain forth, heavens, if you wish.”
10Thế Tôn:
Đây không có bò cái,
Đây không có bò con,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đã nói lên như vậy.
Đây không có bò mẹ,
Mang thai, nối giống dòng,
Đây không có bò đực,
Những con chúa đầu đàn.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Natthi vasā natthi dhenupā, (iti bhagavā) Godharaṇiyo paveṇiyopi natthi; Usabhopi gavampatīdha natthi, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“I have no heifers or sucklings,” said the Buddha, “no cows in calf or breeding cows. I haven’t got a bull, captain of the herd here: so rain forth, heavens, if you wish.”
11Dhaniya:
Cây cột được đóng sâu,
Không còn bị dao động,
Mục đồng Dhaniya
Đã nói lên như vậy.
Các dây bằng cây lau,
Được bện lại mới chắc,
Và các con bò con,
Không thể nào giật đứt.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Khilā nikhātā asampavedhī, (iti dhaniyo gopo) Dāmā muñjamayā navā susaṇṭhānā; Na hi sakkhinti dhenupāpi chettuṁ, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“The stakes are driven in, unshakable,” said Dhaniya, “The grass halters are new and well-woven, not even the sucklings can break them: so rain forth, heavens, if you wish.”
12Thế Tôn:
Giống như con bò đực,
Giật đứt các trói buộc,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đã nói lên như vậy.
Như voi làm bựt đứt
Các giây leo héo mục,
Ta không còn đi đến,
Chỗ thai tạng tái sanh.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi.“Usabhoriva chetva bandhanāni, (iti bhagavā) Nāgo pūtilataṁva dālayitvā; Nāhaṁ punupessaṁ gabbhaseyyaṁ, Atha ce patthayasī pavassa deva”.“Like a bull I broke the bonds,” said the Buddha, “like an elephant I snapped the vine. I will never lie in a womb again: so rain forth, heavens, if you wish.”
13Rồi mưa lớn đổ xuống,
Làm đầy tràn đất trũng,
Làm tràn ngập đất cao,
Nghe trời gầm, mưa, thét,
Mục đồng Dhaniya,
Nói lên lời như sau:Ninnañca thalañca pūrayanto, Mahāmegho pavassi tāvadeva; Sutvā devassa vassato, Imamatthaṁ dhaniyo abhāsatha.Right then a vast cloud rained forth, soaking the uplands and valleys. Hearing the heavens rain down, Dhaniya said this:
14Dhaniya:
Lợi thay cho chúng ta,
Đâu phải là lợi nhỏ,
Chúng ta được chiêm ngưỡng,
Bậc Chánh Giác, Thế Tôn.
Ôi! Kính bậc Pháp nhãn,
Con xin quy y Ngài,
Kính bậc Đại ẩn sĩ,
Hãy là Thầy chúng con.“Lābhā vata no anappakā, Ye mayaṁ bhagavantaṁ addasāma; Saraṇaṁ taṁ upema cakkhuma, Satthā no hohi tuvaṁ mahāmuni.“It is no small gain for us that we have seen the Buddha. We come to you for refuge, Clear-eyed One. O great sage, please be our Teacher.
15–17Vợ con và cả con,
Là những người nhu thuận,
Xin sống đời Phạm hạnh,
Dưới chân bậc Thiện Thệ.
Được đến bờ bên kia,
Vượt khỏi sanh già chết,
Chúng con sẽ trở thành
Người đoạn tận đau khổ.
Màra:
Ai có các con trai,
Hoan hỷ với con trai,
Đây là lời Ác ma,
Đã nói lên như vậy
Người chủ các con bò,
Hoan hỷ với con bò.
Còn người thì hoan hỷ,
Đối với sự sanh y,
Ai không có sanh y,
không thể có hoan hỷ.
Thế Tôn:
Ai có các con trai,
Sầu muộn với con trai,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác,
Đã nói lên như vậy.
Người chủ các con bò,
Sầu muộn với con bò;
Sầu muộn của con người,
Chính do sự sanh y,
Ai không có sanh y,
Không thể có sầu muộn.Gopī ca ahañca assavā, Brahmacariyaṁ sugate carāmase; Jātimaraṇassa pāragū, Dukkhassantakarā bhavāmase”. “Nandati puttehi puttimā, (iti māro pāpimā) Gomā gohi tatheva nandati; Upadhī hi narassa nandanā, Na hi so nandati yo nirūpadhi”. “Socati puttehi puttimā, (iti bhagavā) Gomā gohi tatheva socati; Upadhī hi narassa socanā, Na hi so socati yo nirūpadhī”ti. Dhaniyasuttaṁ dutiyaṁ.My wife and I, obedient, shall lead the spiritual life under the Holy One. Gone beyond birth and death, we shall make an end of suffering.” “Children bring you delight!” said Māra the Wicked, “Cattle also bring you delight! For attachments are a man’s delight; without attachments there’s no delight.” “Your children bring you sorrow,” said the Buddha, “Your cattle also bring you sorrow. For attachments are a man’s sorrow; without attachments there are no sorrows.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 1.2 (Dhaniya Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.2 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.